Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Hội thảo không đông người tham dự nhưng sôi nổi vì mỗi người đều có rất nhiều suy nghĩ, trăn trở, giải pháp về vấn đề “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”. Chương trình do Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật TP.HCM tổ chức vào sáng nay (ngày 27-11) tại TP.HCM.
Khó khăn thường gặp của người khuyết tật với công nghệ thông tin
Sáu chuyên đề được trình bày tại hội thảo đều có nội dung rất gần gũi với người khuyết tật (NKT): Công nghệ thông tin (CNTT) cho NKT tại VN, Đào tạo CNTT cho NKT, CNTT cho NKT khiếm thính, Công cụ mới - nghề mới, Cách lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với NKT, Tăng năng lực và cơ hội việc làm cho NKT.
Anh Trần Mạnh Huy (Công ty Hệ thống thông tin FPT) chỉ ra những thách thức với NKT: “Do đa phần NKT có trình độ văn hóa còn nhiều hạn chế nên việc theo học các ngành nghề CNTT luôn gặp những khó khăn nhất định. Hơn nữa, thời gian để sở hữu một chuyên môn CNTT tốt là tương đối dài. Điều này làm hạn chế việc chọn nghề CNTT của NKT.
Công việc vốn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều NKT. Đã có không ít lời “than thở" khi ngay chính nhiều cơ quan của Nhà nước vẫn còn e ngại tiếp nhận lao động khuyết tật, có những phần việc có thể ưu tiên cho NKT nhưng NKT vẫn chưa được tiếp nhận…
Chị Vũ Hồng Châu (Hội Bảo trợ người tàn tật cà trẻ mồ côi TP.HCM) kể: “Tôi biết có những NKT đã được doanh nghiệp nhận vào làm, nhưng chỉ hai, ba ngày sau là bỏ việc. Lý do là vì để đến được nơi làm họ phải leo cầu thang hay phải đi xe buýt. Những việc khó khăn đối với những dạng tật của họ”.
Chị Dương Phương Hạnh - chủ tịch CLB Khiếm thính TP.HCM - hướng sự chú ý của mọi người sang khía cạnh CNTT cho người khiếm thính. Chị chỉ ra những khó khăn: “Phần lớn người khiếm thính không thể theo học ở các trung tâm tin học vì không thể nghe. Còn các lớp dạy photoshop, thiết kế web cho người khiếm thính tại Chương trình khuyết tật và phát triển (DRD), CLB Hướng nghiệp khuyết tật trẻ (TP.HCM)… thì không có cấp bằng. Hiện nay rất ít doanh nghiệp mạnh dạn nhận người khiếm thính vào làm việc liên quan tới CNTT”.
Đào tạo CNTT cho NKT khó cả đầu vào lẫn đầu ra - đó là khẳng định của ông Đỗ Văn Du (Chương trình đào tạo CNTT cho NKT - ITTP - IT training program for people with disabilities). Ông cũng gợi mở chìa khóa giải quyết vấn đề: “Doanh nghiệp luôn cần và thích những người giỏi. Vì vậy, dù là NKT hay không khuyết tật, muốn có cơ hội việc làm tốt phải là người rất giỏi. Đó cũng là lý do mà khi xây dựng chương trình đào tạo CNTT cho NKT phải cân nhắc xem NKT có học được không".
Cơ hội cho người khuyết tật
Thạc sĩ Hoàng Thị Quỳnh Lan (Vụ Khoa học và công nghệ thuộc Bộ Thông tin và truyền thông) cho biết: “NKT đang được giúp đỡ để tiếp cận CNTT tốt hơn. Cụ thể là thông tư 28/2009 của Bộ Thông tin và truyền thông quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ NKT tiếp cận CNTT và truyền thông. NKT còn được quan tâm với đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2006 -2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
Một số ngành nghề CNTT phù hợp với NKT như: gia công nghiệp vụ doanh nghiệp (xử lý số liệu, tài chính kế toán, chăm sóc khách hàng, nhân sự…), thiết kế đồ họa, chương trình: kiểm định phần mềm, lập trình viên, quản lý dự án (quản lý dự án phần mềm ứng dụng, dự án tích hợp hệ thống, dự án dịch vụ…).
Song như anh Bùi Văn Toàn (Hội Trợ giúp NKT VN - VNAH) thì: “Cần những chính sách mạnh hơn nữa để đảm bảo NKT tiếp cận được CNTT, để có chương trình đào tạo phù hợp và tìm được đầu ra. Các cơ quan tuyển dụng cùng cần thực hiện những chính sách này để NKT có thể tham gia môi trường làm việc”.
Ông Đỗ Văn Du (Chương trình đào tạo CNTT cho NKT - ITTP - IT training program for people with disabilities) gợi mở giải pháp: “Quan trọng là đơn vị đào tạo NKT phải làm việc với cả NKT và đơn vị tuyển dụng NKT. Phải làm việc từ cấp trên xuống cấp dưới để tạo ra môi trường làm việc thân thiện cho NKT để họ có thể cống hiến hết khả năng”.
1. Chính phủ nên tăng cường đầu tư phát triển phần mềm, phần cứng cho NKT, khuyến khích các tổ chức xã hội hợp tác trên lĩnh vực này.
2. Chính phủ nên dành nhiều khoản ngân sách từ nguồn quỹ dạy nghề, đầu tư đào tạo cho NKT có kỹ năng về CNTT từ sơ cấp cho đến lập trình viên, thiết kế web.
3. Tạo những chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp trong việc cải tạo cơ sở hạ tầng khi tuyển dụng người lao động khuyết tật như trích một phần thuế của doanh nghiệp để hỗ trợ việc cải tạo cơ sở hạ tầng cho các doanh nghiệp có sử dụng lao động NKT.
4. Nhà nước cần ưu tiên tuyển dụng những NKT đã được đào tạo, làm việc tại các cơ sở của Nhà nước. Đặc biệt là các cơ sở có chức năng hỗ trợ NKT.
5. Ngoài UBND các cấp, website của các cơ quan Nhà nước đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Thông Tư 26/2009/TT-BTTTT ban hành ngày 31/07/2009 về việc “Cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước.
Tăng năng lực và cơ hội việc làm cho người khuyết tật
Báo cáo viên: Đặng Hoài Phúc
Giám Đốc Trung Tâm TH Vì Người Mù Sao Mai
4/12B Văn Chung, P.13, Q.Tân Bình, TPHCM
ĐT: +84 8 8495069 – DĐ: 0903 979 323
Trang web: www.saomaicenter.org
1. Giới thiệu
Như quý vị đã biết, CNTT ngày nay đã và đang được phát triển rất rộng rãi trên toàn thế giới trong hầu hết mọi lãnh vực và nó đã khẳng định là một trong những công cụ đắc lực nhất. Không ngoài sự phát triển trên, CNTT cũng chính là một công cụ, có thể xem là hiệu quả và tốt nhất hiện nay cho người khiếm thị. Với sự trợ giúp của CNTT, người khiếm thị đã và đang dần dần thu hẹp khoảng cách về trình độ giáo dục và cơ hội làm việc so với cộng đồng chung. Đôi mắt là một bộ phận vô cùng quan trọng của con người, nó giúp chúng ta ghi nhận các thông tin/vật thể bên ngoài và bộ phận quan trọng nhất vẫn là khối óc. Mà những người khiếm thị thì khả năng tư duy, sự làm việc của khối óc thì hoàn toàn được phát triển bình thường. Vì thế, đã có những bạn khiếm thị cho rằng, công nghệ kỹ thuật nói chung CNTT nói riêng đã trở thành một cặp mắt thứ hai giúp họ thực hiện một phần các chức năng cơ bản của đôi mắt thật. Tôi đề cập đến điều đó vì tôi muốn khẳng định với sự trợ giúp của công nghệ thì người khiếm thị đã được đem lại rất nhiều cơ hội nhằm phát triển bản thân và đóng góp cho xã hội chung. Điều này cũng giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng. Trong phần tham luận này, tôi xin chia sẻ với quý vị về cơ hội kiếm việc làm với sự trợ giúp của CNTT và những ý kiến/đề xuất cho các vấn đề còn vướng mắc.
2. Khái quát về tình trạng ứng dụng CNTT của Người khiếm thị ở Việt Nam
Các công nghệ trợ giúp trên thế giới đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi từ cuối thập niên 70, thế kỷ 20. Tuy nhiên, nó chỉ mới được tiếp cận và ứng dụng ở Việt Nam rộng rãi vào cuối thập niên 90 (năm 1998, 1999).
Đến nay, chính vì tiện ích của nó, CNTT đã nhanh chóng được ứng dụng bởi NKT Việt Nam rất nhiều trong các hoạt động bao gồm giáo dục, việc làm và nhận/chia sẻ thông tin.
Bên cạnh đó, các Hội/Trung Tâm/Trường/Cơ Sở/Mái Ấm cho/của người khiếm thị cũng có rất nhiều dự án nhằm thúc đẩy việc phát triển CNTT. Hai lãnh vực chính mà các tổ chức tập trung thúc đẩy phát triển là giáo dục và việc làm. Cả hai lãnh vực này đều có vai trò vô cùng quan trọng. Người khiếm thị không thể có một cuộc sống tự lập, hòa nhập với cộng đồng chung nếu họ không có việc làm. Và nếu họ không có các kỹ năng, kiến thức, trình độ... thì cơ hội kiếm việc làm một cách bình đẳng trở nên vô cùng khó. Đây chính là một trong những khó khăn lớn ở Việt Nam. Trình độ của NKT ở VN hiện vẫn còn rất thấp. Tuy nhiên, đã và đang có rất nhiều cố gắng trong mảng giáo dục cho người khiếm thị; ngày càng có nhiều bạn khiếm thị với trình độ cao đẳng/đại học ở Việt Nam. Vì thế chúng ta không thể không nghĩ đến các công cụ trợ giúp họ để kiếm được một việc làm phù hợp và bình đẳng.
Đã có rất nhiều người khiếm thị ở VN hiện nay đang ứng dụng CNTT vào việc làm. Tuy nhiên, những ngành nghề họ ứng dụng vẫn còn hạn chế ở cơ quan của họ, nơi mà trước khi tiếp cận với CNTT họ đã làm việc. Ngoài ra, thì cũng có những bạn khiếm thị, với kỹ năng CNTT và kỹ năng chuyên môn đã kiếm được những việc làm mới ở các tổ chức/công ty như các công ty bảo hiểm, dịch vụ tổng đài. Cũng có những bạn đã tự mở cơ sở kinh doanh riêng cho mình cung cấp các dịch vụ liên quan đến Tin học. Nhưng con số những cá nhân khiếm thị có việc làm trên là còn rất ít, theo thông tin tôi được biết chỉ khoảng 10 người trở lại. Tuy con số còn rất ít nhưng điều đó khẳng định là cơ hội kiếm việc làm cho người khiếm thị với kỹ năng ứng dụng CNTT là hoàn toàn khả thi.
Nói về khả năng người khiếm thị kiếm việc làm là CNTT thì hiện ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn bắt đầu. Lý do vì hiện nay hầu hết các tổ chức cho người khiếm thị tập trung vào việc thực hiện các chương trình đào tạo phổ cập và ứng dụng tin học. Trong khi để làm CNTT như quản trị hệ thống/mạng, lập trình, nhân viên kỹ thuật... thì họ vẫn chưa đủ khả năng. Đó là một lý do và lý do thứ hai, theo tôi còn khó khăn lớn hơn chính là sự từ chối nhận đào tạo các học viên khiếm thị của các Trung Tâm/Trường tin học trong khi các tổ chức cho người khiếm thị thì không thể đáp ứng tất cả các nhu cầu học tập này của người khiếm thị tại một thời điểm. Vì thế, sự can thiệp của nhà nước trong vấn đề này cần mạnh mẽ hơn.
Nếu quý vị có dịp ghé thăm các Hội Người Mù/Trường/Trung Tâm/Cơ Sở cho/của người khiếm thị, quý vị có thể nhận thấy hầu hết những người khiếm thị đều sử dụng CNTT trong công việc của họ. Tuy nhiên, hiện vẫn chỉ được phổ biến tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Thanh Hóa... Đây chính là một tín hiệu và cũng là một minh chứng cho tính khả thi của các chương trình/dự án tạo việc làm cho người khiếm thị với kỹ năng CNTT, sẽ có nhiều cơ hội kiếm việc làm hơn rất nhiều.
3. Các ngành nghề khả thi với CNTT
Dưới đây, tôi xin trao đổi một số thông tin về các ngành nghề, theo tôi người khiếm thị VN có thể kiếm được việc làm với sự trợ giúp của CNTT dựa trên tình trạng hiện nay ở Việt Nam. Lưu ý, đây hoàn toàn không phải là chỉ những ngành nghề duy nhất mà NKT có thể làm được mà là dựa theo mức độ phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay.
Tôi xin chia thành một số ngành nghề theo tính chủ quan sau đây:
Ngành dịch vụ thông tin:
Ngành này sẽ bao gồm các hoạt động như cung cấp thông tin, tư vấn, sưu tầm tài liệu, viết bài... Một số công việc trong thực tế có thể thấy qua dịch vụ này như các tổng đài cung cấp thông tin như 1080, tư vấn luật, sưu tầm các thông tin và viết bài cho các công ty. Hầu hết các hệ thống này đều sử dụng máy tính để quản lý và làm việc. Vì thế NKT hoàn toàn có thể tiếp cận và tham gia làm việc trong các mảng trên.
Chuyển đổi/dịch thuật:
Hiện cũng có nhiều nhu cầu và việc làm chuyển đổi các nguồn tài liệu từ dạng này sang dạng khác như từ âm thanh sang văn bản và ngược lại. Ngoài ra, dịch thuật/phiên dịch cũng là những ngành rất tiếp cận cho người khiếm thị. Với CNTT, các công cụ hỗ trợ chuyển đổi/dịch thuật hoàn toàn có thể giúp NKT làm được việc đó một cách dễ dàng và tiện lợi như các đồng nghiệp sáng mắt đạt được.
Âm nhạc:
Có thể nói là đã có rất nhiều nhạc sĩ khiếm thị trong và ngoài nước rất thành đạt về âm nhạc. Nhưng như quý vị đã biết thì âm nhạc cũng có rất nhiều hướng như trở thành nghệ sĩ biểu diễn, giảng dạy... Với CNTT, sẽ mở thêm những cơ hội việc làm cho NKT như phối âm, xử lý âm thanh, mixer,. Bên cạnh đó, nó cũng sẽ cải thiện rất nhiều cho những công việc hiện nay như giảng dạy và biểu diễn. Họ có thể dễ dàng soạn/viết nhạc trên và trao đổi với các đồng nghiệp, cung cấp bài học cho học viên sáng mắt của họ thay vì họ phải sử dụng một hệ thống chữ nổi riêng biệt. Chính sự riêng biệt này cũng giảm đi tính hòa nhập với cộng đồng nếu không có hình thức khác để giao tiếp.
Văn phòng
Các công việc văn phòng họ hoàn toàn có thể quản lý và làm được thông qua máy tính như dịch vụ chăm sóc khách hàng, kế toán, in ấn....
Ngành CNTT
Như trình bày trong phần 2, nói về tình trạng hiện tại ở Việt Nam thì vẫn còn một số vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, đây là những mảng mà người khiếm thị hoàn toàn có thể kiếm được việc làm. Các công việc bao gồm như lập trình, quản trị hệ thống, hỗ trợ kỹ thuật...
Trên đây chỉ là những ý chung về những ngành nghề mà hiện nay NKT có thể dễ dàng kiếm được việc làm với CNTT ở Việt Nam. Còn rất nhiều ngành nghề khác mà người khiếm thị có thể làm được trong đó CNTT cũng sẽ là một đôi mắt thứ hai thay thế cho đôi mắt thứ nhất của họ đã mất đi. Tôi xin chia sẻ một câu nói liên quan về việc làm cho người khuyết tật mà tôi rất tâm đắc: "Đừng hỏi họ làm được việc gì? Mà hãy hỏi họ làm việc đó như thế nào."
Cách Lựa Chọn Nghề Nghiệp Phù Hợp Với Người Khuyết Tật
Báo cáo viên: Trịnh Công Thanh
Hội Người KT Hà Nội
DANH MỤC CHÍNH
I. Giới thiệu bản thân
II. Bối cảnh chung
III. Cách thức lựa chọn nghề nghiệp phù hợp đối với người khuyết tật.
1. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tình trạng khuyết tật của bản thân.
2. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở trường, và kinh nghiệm.
3. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tố chất của bạn.
4. Nguyên tắc không bao giờ là quá muộn.
III. Học nghề
1. Tự bỏ kinh phí để theo học nghề
2. Tìm đến các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các dự án ...
IV. Việc làm
1. Tự tạo việc làm
2. Đi xin việc
- Năm 2002, sau khi tốt nghiệp trường ĐH Luật Hà Nội, trở thành Người khuyết tật, tôi đã suy nghĩ về cuộc sống sau khi ra viện, dù thế nào tôi cũng là một người khuyết tật, tôi phải sống chung với khuyết tật và thay đổi cuộc đời mình.
- Năm 2006 sáng lập Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội và trở thành ủy viên thường trực ban chấp hành Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội, phụ trách các vấn đề thông tin tuyên truyền và thanh niên cho đến nay.
- Năm 2008 sáng lập Hội người khuyết tật quận Hai Bà Trưng và trở thành chủ tịch Hội cho đến nay.
- Năm 2006 thành lập công ty TNHH Du lịch Rồng Việt, đến tháng 7 năm 2009 cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần PWD VIỆT NAM giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
II. Bối cảnh chung
Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTB & XH Việt Nam có khoảng 5,5 triệu người khuyết tật. Tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn và miền núi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, do di chứng của sốt bại liệt, do tai nạn nghề nghiệp, tai nạn giao thông và do chiến tranh ... phần lớn người khuyết tật chưa có việc làm và sống dưới mức nghèo khổ.
Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về “Trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006 đến 2010” theo quyết định số 329 của Thủ tướng, người khuyết tật đã được hưởng lợi rất nhiều từ đề án này của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực học nghề.
Tuy nhiên được học nghề và sống bằng nghề vẫn còn là một nan đề, và mặc dù có rất nhiều lớp đào tạo nghề cho người khuyết tật được triển khai trên khắp cả nước nhưng phần lớn vẫn không thể tìm được việc làm sau khi kết thúc học nghề.
Xã hội ngày nay phát triển với một tốc độ chóng mặt, có thêm nhiều nghề nghiệp mới, nhiều công việc mới mà người khuyết tật có thể làm được. Thêm sự lựa chọn và thay đổi quan niệm về nghề nghiệp của người khuyết tật, chỉ riêng đối với người khiếm thị, nếu như trước đây các nghề truyền thống là đan chổi, làm tăm, làm dịch vụ massage xoa bóp bấm huyệt thì ngày nay họ có thể làm nhân viên trực điện thoại, nhân viên bán hàng qua điện thoại...
Như vậy, xã hội và thời đại mới đã mở ra nhiều cánh cửa rộng mở để tiếp nhận người khuyết tật, có làm nghề, trụ được với nghề hay không? Hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của người khuyết tật. Nếu bạn chọn đúng, bạn sẽ có một nghề nghiệp ổn định có thu nhập cao. Nếu bạn chọn sai, bạn sẽ mất thời gian, và không có nghề nghiệp ổn định.
III. Cách thức lựa chọn nghề nghiệp phù hợp đối với người khuyết tật.
1. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tình trạng khuyết tật của bản thân.
Dù bạn có được sự trợ giúp tốt nhất của các dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, bạn vẫn là người khuyết tật vì vậy bạn phải xác định rõ mình là người khuyết tật, khuyết tật có ảnh hưởng thế nào trong đời sống hàng ngày của bạn? Gây cho bạn khó khăn về vận động? Hay giao tiếp?... Những khó khăn đó có thể được khắc phục như thế nào để bạn có thể làm việc tốt mà không gặp trở ngại hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.
Trong bất kỳ một tổ chức, doanh nghiệp đều có những công việc, những vị trí phù hợp với người khuyết tật. Bạn có thể là nhân viên hành chính văn phòng, nhân viên kinh doanh, nhân viên kỹ thuật hoặc là người quản lý. Những công việc không đòi hỏi quá nhiều sự vận động cơ thể hoặc di chuyển ... đều có thể phù hợp với người khuyết tật.
2. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở trường, và kinh nghiệm.
Bạn có năng khiếu về hội họa, bạn là người tỉ mỉ khéo tay, ... sở trường của bạn là gì? Thế mạnh của bạn là gì? Nếu lựa chọn công việc đúng với sở trường thế mạnh của bạn, bạn sẽ thấy công việc trở lên dễ dàng và yêu thích nó, bạn làm việc với tất cả niềm đam mê và việc đó làm cho bạn ngày càng phát triển bản thân trong nghề nghiệp và rút ra những kinh nghiệm quý báu.
Ngày nay, hệ thống giáo dục và đào tạo còn mang nặng ý nghĩa hình thức, học còn chưa gắn với thực tiễn cuộc sống. Bạn có bằng cấp nhưng trên thực tế đa số vẫn phải đào tạo tại tại tổ chức, doanh nghiệp thì bạn mới có thể làm việc được, nên rất cần những người có thực học, thực tài, có kinh nghiệm làm việc. Kinh nghiệm thì không thể một lúc mà có ngay được, học thức cũng thế mà phải tích lũy dàn dần qua năm tháng.
3. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tố chất của bạn.
Có khi nào bạn tự hỏi mình? Bạn sẽ là người thầy, người thợ, nhà quản lý hay một doanh nhân? Bạn muốn mình trở thành người như thế nào? và bạn có đầy đủ tố chất và niềm đam mê để trở thành người như vậy hay không? Điều này là không giống nhau trong mỗi chúng ta. Và nghề nghiệp bạn chọn sẽ tùy thuộc vào việc bạn muốn bạn trở thành người như thế nào.
Cũng có khi bạn muốn là một người thợ giỏi, nhưng qua quá trình rèn luyện và học tập bạn tự nhận ra rằng bạn có thể trở thành một người thầy để dạy lại những kiến thức và kinh nghiệm của mình cho người khác hoặc tại sao bạn lại không trở thành một ông chủ một nhà quản lý? Cuộc sống là luôn phát triển, luôn vận động không ngừng nghỉ.
4. Nguyên tắc không bao giờ là quá muộn.
Sau khi bạn đã xác định và lựa chọn cho mình một mục tiêu để hướng tới, bạn hãy dành thời gian và quyết tâm thực hiện mục tiêu của mình. Gia đình, cộng đồng xã hội và thời đại mới luôn đứng về phía bạn, luôn tạo mọi điều kiện để bạn có thể tiếp cận và phát huy khả năng của mình. Không bao giờ là quá muộn để bạn có thể học nghề, làm nghề và phát triển bản thân.
III. Học nghề
1. Tự bỏ kinh phí để theo học nghề
Nếu gia đình bạn có điều kiện, bạn đã dành dụm được một khoản tiền cho việc học nghề? Bạn có thể theo học các trường đào tạo dạy nghề của nhà nước, bạn chủ động đăng ký tham gia, chủ động lựa chọn ngành nghề mình thích và theo học tại đó.
2. Tìm đến các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các dự án ...
Hiện nay tại Việt Nam nói chung và tại Tp HCM nói riêng, có rất nhiều tổ chức xã hội, các dự án có hỗ trợ để người khuyết tật có thể học một nghề nào đó, để có thể làm việc, lập nghiệp sau khi ra trường. Chúng ta có thể kể đến
- Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Tp HCM
- Hội phụ nữ
- Các thành viên của VABED tại Tp HCM
- DRD - Chương trình khuyết tật và phát triển
- Dự án của CRS tại trường ĐH Văn Lang
- Hội thanh niên khuyết tật Tp HCM
- CLB Hướng nghiệp Khuyết tật trẻ.
IV. Việc làm
1. Tự tạo việc làm
Tùy thuộc vào sở thích, tố chất, điều kiện về thời gian và kinh tế, kinh nghiệm bạn có thể tự tạo cho mình một công việc cụ thể, có thể mở cửa hàng buôn bán nhỏ tại nhà, cửa hàng sửa chữa điện thoại, đồng hồ, đóng và sửa chữa giày, sửa chữa xe máy, hoặc thành lập doanh nghiệp, điều này giúp bạn có thể chủ động trong công việc và tạo ra nhiều việc làm mới để có thể nhận các bạn khuyết tật cùng cảnh ngộ vào làm việc
2. Đi xin việc
Ngày nay, ngoài các hoạt động hướng nghiệp dạy nghề, thậm chí dạy nghề theo yêu cầu của công việc của từng công ty thì thái độ của cộng đồng xã hội đối với lực lượng là người khuyết tật có cởi mở hơn. Từ khối các cơ quan doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước lẫn tư nhân hoặc liên doanh. Người khuyết tật được coi trọng và đánh giá cao về năng lực làm việc chứ không bị coi như là những đối tượng cần được chiếu cố trong doanh nghiệp. Chúng ta có thể kể đến chi cục thuế quận 1, công ty du lịch Lửa Việt.
Nhiều tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông báo chí đứng ra tập huấn kỹ năng xin việc và giới thiệu việc làm miễn phí cho người khuyết tật. Các tổ chức của Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi tp HCM, Hội phụ nữ, Hội thanh niên khuyết tật Tp HCM và DRD ... báo Sài Gòn Giải Phóng Online có chuyên mục Người khuyết tật cần việc làm...
Điều quan trọng là NKT phải nỗ lực rèn luyện và trau dồi kiến thức chuyên môn, tự tin và quyết tâm khi chọn nghề và lập nghiệp.
Chúng ta đã có khá nhiều thông tin về CNTT của NKT. Mục tiêu của báo cáo này xin trình bày một vài giải pháp mà trường Đại học Dân lập Văn Lang đang triển khai thực hiện để giúp NKT có thể tiếp cận hiệu quả hơn với CNTT. Mục tiêu của Văn Lang nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT vào các hoạt động khác nhau của đời sống, cũng như xem CNTT như một ngành nghề ổn định cho NKT hòa nhập xã hội
I- Nhận dạng tình hình
1. CNTT, công cụ tuyệt vời
Các nghiên cứu xã hội học về lối sống của NKT chỉ ra rằng NKT có chung một số trở ngại, còn được gọi là rào cản. Họ gặp trở ngại trong việc đi lại, trong việc cầm nắm vật dụng… ta gọi chung là trở ngại về vận động. Rào cản vận động này được máy tính khắc phục khá hiệu quả. Bởi trên internet, không còn khoảng cách không gian. Không còn sự khác biệt giữa thuận tay trái hay tay phải. Một số người điều khiển máy bằng chân vì tay không sử dụng được.
Một kiểu rào cản khác là rào cản về truyền thông. Trong môi trường máy tính, không còn phân biệt giữa chữ nổi Braille và chữ viết thông dụng. Bạn không thể biết người bạn chat với mình là người nghe hay không nghe được, nhìn hay không nhìn được…
Nhờ các đặc trưng của công cụ mới này, những khó khăn cơ bản của NKT đã được khắc phục. Từ đó họ vượt qua nỗi mặc cảm tự ti về bản thân mình. Cộng đồng cũng vượt qua cái nhìn thiếu kính trọng về NKT.
Cơ hội hòa nhập mới cho NKT gắn liền với sự phát triển của CNTT trên mọi lĩnh vực. Điện thoại di động giúp người khiếm thính có thể liên lạc với mọi người qua tin nhắn. Khi các phần mềm đặc biệt cài vào máy tính, vào điện thoại di động sẽ biến các công cụ này trở nên rất hữu dụng với người mù. Máy tính giúp NKT tham gia học tập, lao động v.v…
CNTT là phát minh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm phát triển năng lực tư duy của con người. Sức lao động cơ bắp ngày càng bị thay thế bởi các công cụ tự động, vi tính hóa, số hóa. Sự lành nghề ngày nay không được hiểu giới hạn trên đôi tay khéo léo nhưng là sự thuần thục các kỹ năng sử dụng công cụ. Đây là những tiền đề cơ bản giúp NKT tham gia thị trường lao động mới. Ta có thể nói, CNTT là nghề mới cho NKT.
Cách đây 30 năm, khó mà tưởng tượng một người đa tật vừa bị tật vận động, vừa bị tật thính giác hoặc thị giác.. lại có thể trở thành một nhân viên giỏi, trưởng phòng hoặc trưởng các dự án kinh doanh.. Thế nhưng điều ấy đã trở thành hiện thực trong thế giới ngày nay.
2. Rào cản
CNTT quả là có rất nhiều phép mầu giúp NKT. Tuy vậy con đường đi đến tương lai của NKT dựa vào CNTT vẫn còn nhiều chông gai, rào cản. Tựu chung, các rào cản xuất phát từ nhận thức của cộng đồng về cơ hội tham gia cho NKT. Ta có thể tóm lược các rào cản ấy như sau:
a- Trở ngại trong việc tiếp cận CNTT:muốn sử dụng được máy tính, NKT phải được huấn luyện. Mỗi dạng tật lại có loại trở ngại riêng., Nhiều người tật vận động đã không tìm được các lớp học có thể di chuyển xe lăn vào lớp được. Ở nước ta lại xảy ra tình trạng giao thông ùn tắt và nhiều người tật vận động không thể tự lái xe gắn máy, không tìm được xe bus có lối cho xe lăn lên… và những cái không ấy đồng nghĩa với: “không đi học được”
Tháo gở rào cản này, ta cần nhìn nhận NKT có quyền được đi học, quyền được đến lớp. Công nhận các quyền làm người cơ bản này, chính là đưa ra các giải pháp xây dựng lớp học sao cho mọi người đều có thể đến lớp được kể cả NKT.
b- Công nhận kỹ năng sử dụng CNTT của NKT: Nhiều người biết số sinh viên khiếm thị VN được nhập học tại các trường đại học đang tăn dần. Đây là một tín hiệu rất đáng tự hào. Bên cạnh đó, ta cũng biết theo quy định của Bộ Giáo dục, sinh viên tốt nghiệp cần có chứng chỉ vi tính mức độ A, chứng chỉ sinh ngữ mức độ B… Câu hỏi đặc ra là làm sao tổ chức thi cho các đối tượng sinh viên khiếm thị?
Bằng cấp thể hiện sự nhìn nhận pháp lý về năng lực của một cá nhân trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Vậy thì làm sao ta có thể có các cuộc thi công minh, chính xác để xác nhận kỹ năng sử dụng vi tính của người khiếm thị, kỹ năng lập trình của người tật thính giác, tật vận động?
3. Giải pháp của Đại học Dân lập Văn Lang
Trước các câu hỏi nêu trên, trường Đại học Dân lập Văn Lang đã đưa ra một gợi ý. Ấy là chương trình đào tạo lập trình viên là NKT, chương trình đào tạo vi tính văn phòng cho người hỏng mắt… Nhà trường hy vọng các giải pháp này sẽ góp phần tăng thêm cơ hội cho NKT tiếp cận CNTT, thay đổi cách nhìn của cộng đồng về cách đánh giá và công nhận kỹ năng của NKT.
II- Chứng chỉ hoàn thành tin học văn phòng cho người khiếm thị
Trước hết, chúng ta hãy bàn về dự án đào tạo vi tính cho người hỏng mắt của đại học Văn Lang.
-Mục tiêu dự án: đào tạo và cấp chứng chỉ sử dụng vi tính văn phòng cho người hỏng mắt. Chứng chỉ có thể sử dụng cho các trường đại học mà sv khiếm thị đang theo học
- Nội dung giảng dạy:
- Các tài liệu giảng dạy vi tính văn phòng cho người mù trước đây có mục tiêu nhằm trả lời câu hỏi: “Người mù sử dụng máy tính như thế nào”. Do vậy, trọng tâm của tài liệu hướng dẫn các tác vụ cơ bản như kỹ năng soạn thảo và đọc tài liệu văn bản trên máy tính.
- Tài liệu giảng dạy mới của Văn Lang nhằm tiếp tục nâng cao kỹ năng soạn thảo của người mù. Qua đó, người khiếm thị có khả năng định dạng các tập tin văn bản sao cho thuận tiện khi liên lạc với người sáng.
1. Tài liệu giảng dạy:
Giới hạn của nội dung huấn luyện: Người mù khó có thể tạo ra những văn bản rất đẹp về trình bày nhưng họ có thể tạo các văn bản đủ rõ ràng về bố cục khi trao đổi thông tin với người sáng.
Tài liệu hướng dẫn sử dụng máy tính với các phần mềm từ mức độ cơ bản với trình đọc màn hình JAWS. Việc tương tác giữa JAWS với các phần mềm phổ thông như Windows Explore, các phần mềm trong bộ Office 2003. Kỹ năng sử dụng bộ đọc tiếng Việt để soạn thảo và tham khảo các tài liệu tiếng Việt như tài liệu WORD, Excel, Internet. Kỹ năng liên lạc, tìm kiếm thông tin trên mạng.
Kỹ thuật: tài liệu được biên soạn gồm các phiên bản file .doc, tích hợp thành file .chm. Mặc khác, các phiên bản được chia làm hai hình thức là văn bản text và tập tin âm thanh audio.
Các phiên bản Text va Audio được tích hợp trong tài liệu dạng .chm. Hiện, chúng tôi đang tìm cách sử dụng đoạn mã eMbeD vào các file.chm sao cho khi vừa mở file lên, tập tin audio và Text đồng loạt tải về máy. Trở ngại hiện nay là tìm kiếm các đoạn mã để tạo các assess key hoặc Jaws Script sao cho người hỏng mắt ở trình độ cơ bản có thể tương tác được với các control như play, stop….hiển thị trong các file htm được tích hợp trong tài liệu chm.
Các hỗ trợ kỹ thuật này nhằm giúp người hỏng mắt có thể xem tài liệu chm 1 cách thuận tiện trên cả 2 dạng văng bản Text và audio.
2. Kết quả ban đầu và khả năng mở rộng
-Thông qua bộ tài liệu này, người khiếm thị nắm bắt được những thông tin nào đang hiển thị trên màn hình, nắm vững các phím tắt đồng thời hiểu được cách người dùng sáng mắt sử dụng chuột.
Khi người dùng khiếm thị hiểu được cách dùng máy tính của người sáng, họ cũng sẽ thu hẹp các khác biệt giữa họ và người sáng. Họ hiểu cách thông tin cho người sáng về yêu cầu định dạng văn bản sao cho thuận tiện với cả 2 phía. Từ kinh nghiệm ấy, họ hình thành các chuẩn về tạo văn bản tiếp cận-document accessibility.
, Văn Lang đang triển khai khóa học thứ 2. Số lượng học viên đăng ký đang tăng nhanh. Tổng số học viên đến nay là 46 người, với 22 người khóa 1 và 24 người khóa 2.
III- Đào tạo lập trình viên là NKT
CNTT đang là một công cụ mới thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Đây cũng là một nghề mới đang phát triển mạnh tại nước ta cũng như trên toàn cầu. Hiện có nhiều NKT đang mong muốn học tập kỹ thuật mới này và biến nó thành một nghề hữu ích cho họ.
1. Mô hình lớp học tiếp cận
Từ đầu năm 2009, Văn Lang đã triển khai các lớp lập trình cho đối tượng là NKT. Do các hạn chế của thương tật, Văn Lang đã đưa ra các giải pháp mang tính xã hội như sau:
-Tạo điều kiện tốt nhất cho học viên có nơi ở nội trú gần trường nhằm tránh các trở ngại về đi lại, về việc tìm ký túc xác cho học viên khuyết tật ở xa.
Lớp học được trang bị các công cụ phần cứng và phần mềm đạt tiêu chuẩn. Giáo trình theo sát các chuẩn quốc tế hiện nay. Đặc biệt Văn Lang tổ chức thi theo chuẩn ICDL, chuẩn vi tính văn phòng quốc tế.
Phòng học được bố trí với lối đi tiếp cận cho mọi học viên. Hệ thống công trình phụ như nhà ăn, nhà vệ sinh cũng được quan tâm đến các đối tượng gặp trở ngại về vận động, tật, thính giác, tật thị giác…
-Học viên là NKT được hướng dẫn các giải pháp thoát hiểm khi xảy ra tình huống nguy cấp như hỏa hoạn…
-Ngoài việc nghiên cứu các kỹ năng chuyên môn về CNTT, học viên cũng được huấn luyện các kỹ năng mềm khác như kỹ năng đi xin việc làm, kỹ năng tham gia phỏng vấn tuyển dụng…
-Nhà trường không ngừng liên lạc với các doanh nghiệp để giới thiệu học viên sau tốt nghiệp tìm việc làm.
2. Cơ hội được tuyển dụng của học viên sau tốt nghiệp
Phương châm đào tạo là học đi đôi với hành. Nhà trường quan tâm đến nhu cầu tuyển dụng nên xem chỉ tiêu tìm được việc làm của học viên kt là một chỉ tiêu cơ bản của dự án. Đến nay, các khóa vi tính cho NKT đã có được 101 học viên, trong đó 21 học viên đã tốt nghiệp. trong số 21 học viên tốt nghiệp này trong vòng không đầy 6 tháng đã có 15 học viên hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp.
Đây chỉ là các kết quả sơ khởi nhưng rất đáng khích lệ cho chúng tôi.
IV- Tổng kết
Văn Lang hy vọng với những thành tựu bước đầu mà chúng tôi đã đạt được sẽ gợi ý cho các đơn vị khác quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu tiếp cận CNTT của NKT. Văn Lang mong đợi ngày càng có thêm nhiều NKT tham gia sử dụng CNTT và CNTT là nghề mới cho họ.
Hôm nay, tôi rất vinh dự được báo cáo về nhu cầu việc làm liên quan đến CNTT của CLB Khiếm thính nới riêng và của người khiếm thính Tp.HCM nói chung.
Người khiếm thính ở độ tuổi đi làm có hai dạng tật: (1) người Điếc không nghe được và không nói chuyện được giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ ký hiệu kèm theo đọc tín hiệu môi và cũng có thể giao tiếp bằng viết ra giấy. (2) Người nghe kém nói chuyện được, nghe bằng đọc tín hiệu môi. Mặt bằng học vấn chung của người Điếc là trình độ cấp hai trở xuống và của người nghe kém là cấp ba trở lên.
Những ngành nghề người khiếm thính đã, đang và có nhu cầu tìm việc cao đó là những công việc yêu cầu khéo tay, tinh mắt: may, thêu, sửa xe gắn máy, in lụa, vẽ … và đặc biệt là ngành đồ họa vi tính, thiết kế web … những chuyên ngành khác về CNTT như phần mềm, quản trị mạng thì có một số em nghe kém đã có bằng cử nhân hoặc chứng chỉ từ các khóa học ngắn hạn.
Phần lớn các trường chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thính trong địa bàn Tp.HCM đều trang bị phòng máy tính cho học sinh. Đơn cử như Hy Vọng 1 nhận được tài trợ từ Sam Sung để trang bị một phòng với 30 máy và mời giảng viên từ trường Đại học KHXH & NV tới giảng dạy, có tổ chức thi lấy bằng A, B tin học. Trường Hy Vọng Bình Thạnh cũng được Tổ chức Phi chính phủ SCC (Saigon Children of Charity) trang bị phòng máy tính, trường Hy Vọng 8, 6 … đều có phòng máy tính. Vấn đề là các giáo viên mong muốn, học sinh khiếm thính được học nghề tin học, cụ thể là đồ học vi tính và có được chứng nhận để xin việc. Tới đây, người khiếm thính đối mặt với các vấn đề:
1. Phần lớn người khiếm thính không theo học ở các trung tâm tin học được vì không nghe.
2. Có các lớp dạy photoshop, thiết kế web … cho người khiếm thính, như tại Chương Trình Khuyết tật & Phát triển (DRD), CLB Hướng Nghiệp Khuyết tật Trẻ … thì không có cấp bằng …
3. Có rất ít doanh nghiệp mạnh dạn nhận khiếm thính vào làm việc liên quan tới CNTT …
CLB Khiếm thính Tp.HCM có em Nguyễn Đặng Tuấn là người Điếc, sử dụng Ngôn ngữ ký hiệu, biết đọc tín hiệu môi và viết chữ tốt trong giao tiếp, em được gia đình hỗ trợ 14 triệu đồng để theo học photoshop, sau đó, em được chính chị ruột là nhân viên của một công ty đồ họa vi tính của Hàn Quốc xin cho vào làm chung … đã ba năm qua, từ mức lương 800. 000 VNĐ khi mới vào làm, tới nay, lương hàng tháng của em là 2 triệu. Tôi đã nhờ gia đình nói với BGĐ Công ty cho tôi cái hẹn gặp để xin giúp cho khiếm thính khác vào làm việc nhưng đã hai năm nay chưa được chấp nhận.
Một trường hợp khác, Công ty TNHH Thương Mại Vĩnh Nam thiết kế đồ họa vi tính thuộc Công viên phần mềm Quang Trung. Công ty giúp nhận khiếm thính vào đào tạo đồ học vi tính theo lối cầm tay chỉ việc. Khóa đầu tiên 14 em với điều kiện tuyển chọn đầu vào phải tốt nghiệp lớp 12. Khóa này tôi đã giới thiệu các em khiếm thính của một dự án giáo dục người Điếc học. Sau khóa này, BGĐ rất khen ngợi, nhận một em làm việc cho Công ty những em còn lại một số xin được việc ở các tiệm chụp ảnh. Sau đó, Vĩnh Nam tuyển sinh thêm khóa thứ hai và điều kiện tuyển đầu vào khi này là trình độ văn hóa lớp 6 trở lên. Kết quả là các em học tập rất tốt, được giữ lại làm việc 4 em.
DRD cũng có tổ chức các lớp thiết kế web, thiết kế giáo trình điện tử do các kỹ sư tin học tình nguyện giảng dạy cho các em Điếc và nghe kém. Các em tiếp thu rất nhanh, kết thúc khóa học đều thiết kế được những website đơn giản, thành thạo các thao tác trong thiết kế giáo trình điện tử nhưng chưa tìm được nơi làm việc.
Đáng tiếc là rất ít gia đình người khiếm thính có được điều kiện kinh tế như gia đình em Tuấn, và nếu có, các doanh nghiệp có tuyển dụng không hay là cần phải có cái may mắn như em Tuấn có chị làm việc tại công ty tin học? Người khiếm thính thì nhiều mà hiện thời chỉ có mỗi công ty Vĩnh Nam!
CNTT là con đường đưa chúng ta đến với thế giới, là cánh cửa mở rộng cho mọi người. Hy vọng rằng, cánh cửa này trong tương lai không còn khép nhỏ đối với người khiếm thính.
Để kết thúc bài cáo, tôi xin được phép kể một câu chuyện. Trên thế giới, trong lĩnh vực khiếm thính, ai cũng biết đến câu nói bất hủ của Tiến sỹ J. King Jordan “Người Điếc có thể làm bất cứ việc gì như mọi người, trừ việc nghe”. Gần đây, tôi may mắn được tham dự hội nghị có Ông phát biểu, và Ông đã nói “Người khiếm thính có thể làm bất cứ việc gì kể cả việc nghe – nhưng làm bằng cách khác” Trong lĩnh vực CNTT, chúng ta chắc chắn cũng tìm được cách khác nếu như tất cả cùng hợp sức.
“NKT có hạn chế nhất định so với người bình thường, nhưng nếu biết sắp xếp đưa vào một công đoạn thích hợp của công việc, đặc biệt liên quan đến CNTT thì họ lại phát huy rất tốt thế mạnh của mình.”
Ý kiến ủng hộ
“NKT tuy cần cù trong công việc nhưng hay tự ti, mặc cảm, và có tâm lý mình phải được phục vụ từ cộng đồng, điều này làm các doanh nghiệp e ngại trong việc tuyển dụng NKT.”
Ý kiến e ngại
CNTT cho NKT – Cơ hội và thách thức
Cơ hội:
Ngày nay, với sự phát triển của KHKT, ngành CNTT phát triển rất sâu rộng và đang ngày càng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho mọi tầng lớp lao động của xã hội ở Việt nam. NKT với lực lượng lao động dồi dào, có khả năng tiếp thu công nghệ nhanh, vì thế cũng đang có nhiều cơ hội làm việc trong ngành CNTT và vươn lên trong cuộc sống. Hơn nữa, hơn bất cứ ngành nghề nào hết, CNTT cũng có rất nhiều công việc phù hợp với NKT như đồ họa, kiểm định phần mềm, BPO (gia công quy trình doanh nghiệp), v.v. nên số lượng lao động NKT trong ngành CNTT ngày càng hùng hậu.
Thách thức:
Tuy nhiên, NKT cũng gặp khá nhiều thách thức trong việc hòa nhập xã hội băng các việc làm CNTT. Do đa phần NKT có trình độ văn hóa còn nhiều hạn chế, nên việc theo học các ngành nghề CNTT luôn gặp những khó khăn nhất định. Hơn nữa, thời gian để sở hữu 1 chuyên môn CNTT tốt là tương đối dài và điều này làm hạn chế việc chọn nghề CNTT của NKT.
Hơn nữa, đa phần NKT là người nghèo, nên NKT thường chọn những ngành nghề “ngắn hạn” – ít đầu tư để mưu sinh và thường chưa thấy rõ CNTT là ngành “chiến lược” để theo đuổi trong việc hòa nhập với xã hội trong dài hạn.
Một thách thức khác cho NKT trong việc chọn CNTT là CNTT chỉ tập trung phát triển ở những thành phố lớn, nên NKT ở các nơi khác khó tiếp cận với các chương trình đào tạo và việc làm.
Các ngành nghề CNTT phù hợp
Một số ngành nghề CNTT phù hợp với NKT như bảng dưới đây
Gia công nghiệp vụ doanh nghiệp (BPO)
Xử lý số liệu, Tài chính kế toán, Chăm sóc khách hàng, Nhân sự, v.v.
Thiết kế đồ họa, chương trình
Đồ họa phần mềm, Quảng cáo, Xử lý ảnh, Báo chí, v.v.
Kiểm định phần mềm
Kiểm định phần mềm, kiểm định hệ thống, v.v.
Lập trình viên
Lập trình ứng dụng, Lập trình hệ thống, Lập trình hệ thống nhúng, v.v.
Quản lý dự án
Quản lý dự án phần mềm ứng dụng, Quản lý dự án tích hợp hệ thống, Quản lý dự án dịch vụ, v.v.
Chiến lược phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT
Việc phát triển nguồn lực NKT phục vụ cho ngành CNTT luôn là những thách thức cho người hoạch định chính sách do các vấn đề lực lương lao động, hệ thống giáo dục chuyên biệt, ngân sách hoạt động, ngoại ngữ, kỹ năng mềm, hòa nhập văn hóa, v.v.
Dưới đây là 2 việc cần làm trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT:
- Xác định và quản lý các chi phí cho việc phát triển nguồn lực NKT
- Xây dựng các biểu đồ chi phí để xây dựng lực lượng lao động NKT đủ trình độ trong lĩnh vực CNTT:Việc xây dựng lực lương lao động NKT đủ trình độ đòi hỏi một kế hoạch đào tạo dài hơi và qua nhiều giai đoạn, do đó việc quản lý chi phí cho các kế hoạch này cần được xây dựng, theo dõi và quản lý chặt chẽ.
- Chia các giai đoạn đào tạo nghề CNTT theo dự án dựa trên kinh phí: Do đặc thù của ngành CNTT và nguồn kinh phí có hạn cho việc đào tạo nghề, chúng ta nên chia các giai đoạn đào tạo nghề CNTT theo từng giai đoạn phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và nguôn kinh phí được phân bổ. Với cách này, NKT sẽ được đào tạo nghề hướng mục tiêu theo nhiều nhu cầu công việc thực tế của các doanh nghiệp.
- Kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, nhà nước tham gia vào các dự án đào tạo nghề và sử dụng lao động NKT nhằm tận dụng tốt các nguồn lực xã hội chăm sóc cho NKT
- Xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm
- Thành lập nhóm hành động: Việc xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm phù hợp với NKT có tay nghề CNTT đòi hỏi sự đóng góp của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức của xã hội do đó việc thành lập 1 “task force” để luôn tìm kiếm, xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm phù hợp theo sự phát triển của ngành CNTT là luôn cần thiết trong suốt quá trình phát triển nguồn lực NKT
- Xây dựng các “case study” về sử dụng nguồn lực NKT-CNTT trong doanh nghiệp: Việc sử dụng nguồn lực NKT – CNTT trong các doanh nghiệp CNTT và không CNTT hiện nay là rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này, tuy nhiên, việc chưa có một “case study” tốt để “cung” gặp “cầu” một cách hiệu quả là một nguyen nhân vô cùng quan trọng. Việc xây dựng các “case study” thành công sẽ giúp các doanh nghiệp mạnh dạn hơn khi sử dụng nguồn lực NKT và NKT cũng hiểu hơn các điều cần thiết để chuẩn bị trong thời gian học nghề và làm việc sau này.
- Xác lập các thông số đo lường hiệu quả của nguồn lực NKT-CNTT trong các doanh nghiệp, chú trọng về vấn đề rủi ro, chi phí, hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp thấy rõ bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng nguồn lực NKT
- Xác định và tư vấn cho doanh nghiệp sử dụng nguồn lực NKT dựa trên các “best practices” và “PWD Selection Matrix”
Mô hình triển khai
Xin giới thiệu 1 mô hình triển khai việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT như bảng dưới đây. Chi tiếc cụ thể về các bước sẽ đề cập ở tài liệu khác khi cần thiết.
Quản lý thay đổi trong việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT
NKT hiện nay đa phần tập trung ở các công việc giản đơn và đây có thể xem là suy nghĩ chung của mọi người, của các doanh nghiệp, của xã hội và kể cả NKT về việc làm cho NKT.
Thay đổi nhận thức như vậy đòi hỏi phải có một chương trình hành động cụ thể và lâu dài nhắm vào bản thân NKT và xã hội nhằm thay đổi một cách tích cực xu hướng nghề nghiệp cũng như sử dụng lao động NKT trong các doanh nghiệp.
Xin giới thiệu 2 mô hình quản lý thay đổi dành cho nguồn lực NKT và môi trường xung quanh trong việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT. Chi tiết về hai mô hình sẽ được đề cập ở tài liệu khác khi cần thiết
Mô hình QLTĐ cho nguồn lực
Mô hình QLTĐ cho cho môi trường
Hỗ trợ từ nhà nước và các doanh nghiệp
Để xây dựng được chương trình việc làm CNTT cho NKT, không thể không kể đến sự hỗ trợ từ nhà nước và các doanh nghiệp trong việc hoạch định những chính sách cho NKT, xây dựng những hạ tầng CSVC để hỗ trợ NKT trong việc đến với CNTT và làm việc. Điều quan trọng nữa là luôn tạo cơ hội cho NKT được tham gia vào quá trình học tập CNTT và tạo cơ hội việc làm cho những lao động đủ trình độ chuyên môn và đạo đức cũng như ủng hộ về mặt tài chính cho những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào chương trình này.
Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Hội thảo không đông người tham dự nhưng sôi nổi vì mỗi người đều có rất nhiều suy nghĩ, trăn trở, giải pháp về vấn đề “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”. Chương trình do Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật TP.HCM tổ chức vào sáng nay (ngày 27-11) tại TP.HCM.
Khó khăn thường gặp của người khuyết tật với công nghệ thông tin
Sáu chuyên đề được trình bày tại hội thảo đều có nội dung rất gần gũi với người khuyết tật (NKT): Công nghệ thông tin (CNTT) cho NKT tại VN, Đào tạo CNTT cho NKT, CNTT cho NKT khiếm thính, Công cụ mới - nghề mới, Cách lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với NKT, Tăng năng lực và cơ hội việc làm cho NKT.
Anh Trần Mạnh Huy (Công ty Hệ thống thông tin FPT) chỉ ra những thách thức với NKT: “Do đa phần NKT có trình độ văn hóa còn nhiều hạn chế nên việc theo học các ngành nghề CNTT luôn gặp những khó khăn nhất định. Hơn nữa, thời gian để sở hữu một chuyên môn CNTT tốt là tương đối dài. Điều này làm hạn chế việc chọn nghề CNTT của NKT.
Công việc vốn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều NKT. Đã có không ít lời “than thở" khi ngay chính nhiều cơ quan của Nhà nước vẫn còn e ngại tiếp nhận lao động khuyết tật, có những phần việc có thể ưu tiên cho NKT nhưng NKT vẫn chưa được tiếp nhận…
Chị Vũ Hồng Châu (Hội Bảo trợ người tàn tật cà trẻ mồ côi TP.HCM) kể: “Tôi biết có những NKT đã được doanh nghiệp nhận vào làm, nhưng chỉ hai, ba ngày sau là bỏ việc. Lý do là vì để đến được nơi làm họ phải leo cầu thang hay phải đi xe buýt. Những việc khó khăn đối với những dạng tật của họ”.
Chị Dương Phương Hạnh - chủ tịch CLB Khiếm thính TP.HCM - hướng sự chú ý của mọi người sang khía cạnh CNTT cho người khiếm thính. Chị chỉ ra những khó khăn: “Phần lớn người khiếm thính không thể theo học ở các trung tâm tin học vì không thể nghe. Còn các lớp dạy photoshop, thiết kế web cho người khiếm thính tại Chương trình khuyết tật và phát triển (DRD), CLB Hướng nghiệp khuyết tật trẻ (TP.HCM)… thì không có cấp bằng. Hiện nay rất ít doanh nghiệp mạnh dạn nhận người khiếm thính vào làm việc liên quan tới CNTT”.
Đào tạo CNTT cho NKT khó cả đầu vào lẫn đầu ra - đó là khẳng định của ông Đỗ Văn Du (Chương trình đào tạo CNTT cho NKT - ITTP - IT training program for people with disabilities). Ông cũng gợi mở chìa khóa giải quyết vấn đề: “Doanh nghiệp luôn cần và thích những người giỏi. Vì vậy, dù là NKT hay không khuyết tật, muốn có cơ hội việc làm tốt phải là người rất giỏi. Đó cũng là lý do mà khi xây dựng chương trình đào tạo CNTT cho NKT phải cân nhắc xem NKT có học được không".
Cơ hội cho người khuyết tật
Thạc sĩ Hoàng Thị Quỳnh Lan (Vụ Khoa học và công nghệ thuộc Bộ Thông tin và truyền thông) cho biết: “NKT đang được giúp đỡ để tiếp cận CNTT tốt hơn. Cụ thể là thông tư 28/2009 của Bộ Thông tin và truyền thông quy định về việc áp dụng tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ NKT tiếp cận CNTT và truyền thông. NKT còn được quan tâm với đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2006 -2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
Một số ngành nghề CNTT phù hợp với NKT như: gia công nghiệp vụ doanh nghiệp (xử lý số liệu, tài chính kế toán, chăm sóc khách hàng, nhân sự…), thiết kế đồ họa, chương trình: kiểm định phần mềm, lập trình viên, quản lý dự án (quản lý dự án phần mềm ứng dụng, dự án tích hợp hệ thống, dự án dịch vụ…).
Song như anh Bùi Văn Toàn (Hội Trợ giúp NKT VN - VNAH) thì: “Cần những chính sách mạnh hơn nữa để đảm bảo NKT tiếp cận được CNTT, để có chương trình đào tạo phù hợp và tìm được đầu ra. Các cơ quan tuyển dụng cùng cần thực hiện những chính sách này để NKT có thể tham gia môi trường làm việc”.
Ông Đỗ Văn Du (Chương trình đào tạo CNTT cho NKT - ITTP - IT training program for people with disabilities) gợi mở giải pháp: “Quan trọng là đơn vị đào tạo NKT phải làm việc với cả NKT và đơn vị tuyển dụng NKT. Phải làm việc từ cấp trên xuống cấp dưới để tạo ra môi trường làm việc thân thiện cho NKT để họ có thể cống hiến hết khả năng”.
TRUNG UYÊN
Nguồn: Tuổi Trẻ Online
Comments
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Đây là phần kiến nghị
CÁC KHUYẾN NGHỊ
1. Chính phủ nên tăng cường đầu tư phát triển phần mềm, phần cứng cho NKT, khuyến khích các tổ chức xã hội hợp tác trên lĩnh vực này.
2. Chính phủ nên dành nhiều khoản ngân sách từ nguồn quỹ dạy nghề, đầu tư đào tạo cho NKT có kỹ năng về CNTT từ sơ cấp cho đến lập trình viên, thiết kế web.
3. Tạo những chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp trong việc cải tạo cơ sở hạ tầng khi tuyển dụng người lao động khuyết tật như trích một phần thuế của doanh nghiệp để hỗ trợ việc cải tạo cơ sở hạ tầng cho các doanh nghiệp có sử dụng lao động NKT.
4. Nhà nước cần ưu tiên tuyển dụng những NKT đã được đào tạo, làm việc tại các cơ sở của Nhà nước. Đặc biệt là các cơ sở có chức năng hỗ trợ NKT.
5. Ngoài UBND các cấp, website của các cơ quan Nhà nước đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Thông Tư 26/2009/TT-BTTTT ban hành ngày 31/07/2009 về việc “Cung cấp thông tin và đảm bảo khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước.
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Báo cáo của bạn Đặng Hoài Phúc
Bài tham luận của Sao Mai tại Hội thảo CNTT
Tăng năng lực và cơ hội việc làm cho người khuyết tật
Báo cáo viên: Đặng Hoài Phúc
Giám Đốc Trung Tâm TH Vì Người Mù Sao Mai
4/12B Văn Chung, P.13, Q.Tân Bình, TPHCM
ĐT: +84 8 8495069 – DĐ: 0903 979 323
Trang web: www.saomaicenter.org
1. Giới thiệu
Như quý vị đã biết, CNTT ngày nay đã và đang được phát triển rất rộng rãi trên toàn thế giới trong hầu hết mọi lãnh vực và nó đã khẳng định là một trong những công cụ đắc lực nhất. Không ngoài sự phát triển trên, CNTT cũng chính là một công cụ, có thể xem là hiệu quả và tốt nhất hiện nay cho người khiếm thị. Với sự trợ giúp của CNTT, người khiếm thị đã và đang dần dần thu hẹp khoảng cách về trình độ giáo dục và cơ hội làm việc so với cộng đồng chung. Đôi mắt là một bộ phận vô cùng quan trọng của con người, nó giúp chúng ta ghi nhận các thông tin/vật thể bên ngoài và bộ phận quan trọng nhất vẫn là khối óc. Mà những người khiếm thị thì khả năng tư duy, sự làm việc của khối óc thì hoàn toàn được phát triển bình thường. Vì thế, đã có những bạn khiếm thị cho rằng, công nghệ kỹ thuật nói chung CNTT nói riêng đã trở thành một cặp mắt thứ hai giúp họ thực hiện một phần các chức năng cơ bản của đôi mắt thật. Tôi đề cập đến điều đó vì tôi muốn khẳng định với sự trợ giúp của công nghệ thì người khiếm thị đã được đem lại rất nhiều cơ hội nhằm phát triển bản thân và đóng góp cho xã hội chung. Điều này cũng giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng. Trong phần tham luận này, tôi xin chia sẻ với quý vị về cơ hội kiếm việc làm với sự trợ giúp của CNTT và những ý kiến/đề xuất cho các vấn đề còn vướng mắc.
2. Khái quát về tình trạng ứng dụng CNTT của Người khiếm thị ở Việt Nam
Các công nghệ trợ giúp trên thế giới đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi từ cuối thập niên 70, thế kỷ 20. Tuy nhiên, nó chỉ mới được tiếp cận và ứng dụng ở Việt Nam rộng rãi vào cuối thập niên 90 (năm 1998, 1999).
Đến nay, chính vì tiện ích của nó, CNTT đã nhanh chóng được ứng dụng bởi NKT Việt Nam rất nhiều trong các hoạt động bao gồm giáo dục, việc làm và nhận/chia sẻ thông tin.
Bên cạnh đó, các Hội/Trung Tâm/Trường/Cơ Sở/Mái Ấm cho/của người khiếm thị cũng có rất nhiều dự án nhằm thúc đẩy việc phát triển CNTT. Hai lãnh vực chính mà các tổ chức tập trung thúc đẩy phát triển là giáo dục và việc làm. Cả hai lãnh vực này đều có vai trò vô cùng quan trọng. Người khiếm thị không thể có một cuộc sống tự lập, hòa nhập với cộng đồng chung nếu họ không có việc làm. Và nếu họ không có các kỹ năng, kiến thức, trình độ... thì cơ hội kiếm việc làm một cách bình đẳng trở nên vô cùng khó. Đây chính là một trong những khó khăn lớn ở Việt Nam. Trình độ của NKT ở VN hiện vẫn còn rất thấp. Tuy nhiên, đã và đang có rất nhiều cố gắng trong mảng giáo dục cho người khiếm thị; ngày càng có nhiều bạn khiếm thị với trình độ cao đẳng/đại học ở Việt Nam. Vì thế chúng ta không thể không nghĩ đến các công cụ trợ giúp họ để kiếm được một việc làm phù hợp và bình đẳng.
Đã có rất nhiều người khiếm thị ở VN hiện nay đang ứng dụng CNTT vào việc làm. Tuy nhiên, những ngành nghề họ ứng dụng vẫn còn hạn chế ở cơ quan của họ, nơi mà trước khi tiếp cận với CNTT họ đã làm việc. Ngoài ra, thì cũng có những bạn khiếm thị, với kỹ năng CNTT và kỹ năng chuyên môn đã kiếm được những việc làm mới ở các tổ chức/công ty như các công ty bảo hiểm, dịch vụ tổng đài. Cũng có những bạn đã tự mở cơ sở kinh doanh riêng cho mình cung cấp các dịch vụ liên quan đến Tin học. Nhưng con số những cá nhân khiếm thị có việc làm trên là còn rất ít, theo thông tin tôi được biết chỉ khoảng 10 người trở lại. Tuy con số còn rất ít nhưng điều đó khẳng định là cơ hội kiếm việc làm cho người khiếm thị với kỹ năng ứng dụng CNTT là hoàn toàn khả thi.
Nói về khả năng người khiếm thị kiếm việc làm là CNTT thì hiện ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn bắt đầu. Lý do vì hiện nay hầu hết các tổ chức cho người khiếm thị tập trung vào việc thực hiện các chương trình đào tạo phổ cập và ứng dụng tin học. Trong khi để làm CNTT như quản trị hệ thống/mạng, lập trình, nhân viên kỹ thuật... thì họ vẫn chưa đủ khả năng. Đó là một lý do và lý do thứ hai, theo tôi còn khó khăn lớn hơn chính là sự từ chối nhận đào tạo các học viên khiếm thị của các Trung Tâm/Trường tin học trong khi các tổ chức cho người khiếm thị thì không thể đáp ứng tất cả các nhu cầu học tập này của người khiếm thị tại một thời điểm. Vì thế, sự can thiệp của nhà nước trong vấn đề này cần mạnh mẽ hơn.
Nếu quý vị có dịp ghé thăm các Hội Người Mù/Trường/Trung Tâm/Cơ Sở cho/của người khiếm thị, quý vị có thể nhận thấy hầu hết những người khiếm thị đều sử dụng CNTT trong công việc của họ. Tuy nhiên, hiện vẫn chỉ được phổ biến tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Thanh Hóa... Đây chính là một tín hiệu và cũng là một minh chứng cho tính khả thi của các chương trình/dự án tạo việc làm cho người khiếm thị với kỹ năng CNTT, sẽ có nhiều cơ hội kiếm việc làm hơn rất nhiều.
3. Các ngành nghề khả thi với CNTT
Dưới đây, tôi xin trao đổi một số thông tin về các ngành nghề, theo tôi người khiếm thị VN có thể kiếm được việc làm với sự trợ giúp của CNTT dựa trên tình trạng hiện nay ở Việt Nam. Lưu ý, đây hoàn toàn không phải là chỉ những ngành nghề duy nhất mà NKT có thể làm được mà là dựa theo mức độ phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay.
Tôi xin chia thành một số ngành nghề theo tính chủ quan sau đây:
Ngành dịch vụ thông tin:
Ngành này sẽ bao gồm các hoạt động như cung cấp thông tin, tư vấn, sưu tầm tài liệu, viết bài... Một số công việc trong thực tế có thể thấy qua dịch vụ này như các tổng đài cung cấp thông tin như 1080, tư vấn luật, sưu tầm các thông tin và viết bài cho các công ty. Hầu hết các hệ thống này đều sử dụng máy tính để quản lý và làm việc. Vì thế NKT hoàn toàn có thể tiếp cận và tham gia làm việc trong các mảng trên.
Chuyển đổi/dịch thuật:
Hiện cũng có nhiều nhu cầu và việc làm chuyển đổi các nguồn tài liệu từ dạng này sang dạng khác như từ âm thanh sang văn bản và ngược lại. Ngoài ra, dịch thuật/phiên dịch cũng là những ngành rất tiếp cận cho người khiếm thị. Với CNTT, các công cụ hỗ trợ chuyển đổi/dịch thuật hoàn toàn có thể giúp NKT làm được việc đó một cách dễ dàng và tiện lợi như các đồng nghiệp sáng mắt đạt được.
Âm nhạc:
Có thể nói là đã có rất nhiều nhạc sĩ khiếm thị trong và ngoài nước rất thành đạt về âm nhạc. Nhưng như quý vị đã biết thì âm nhạc cũng có rất nhiều hướng như trở thành nghệ sĩ biểu diễn, giảng dạy... Với CNTT, sẽ mở thêm những cơ hội việc làm cho NKT như phối âm, xử lý âm thanh, mixer,. Bên cạnh đó, nó cũng sẽ cải thiện rất nhiều cho những công việc hiện nay như giảng dạy và biểu diễn. Họ có thể dễ dàng soạn/viết nhạc trên và trao đổi với các đồng nghiệp, cung cấp bài học cho học viên sáng mắt của họ thay vì họ phải sử dụng một hệ thống chữ nổi riêng biệt. Chính sự riêng biệt này cũng giảm đi tính hòa nhập với cộng đồng nếu không có hình thức khác để giao tiếp.
Văn phòng
Các công việc văn phòng họ hoàn toàn có thể quản lý và làm được thông qua máy tính như dịch vụ chăm sóc khách hàng, kế toán, in ấn....
Ngành CNTT
Như trình bày trong phần 2, nói về tình trạng hiện tại ở Việt Nam thì vẫn còn một số vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, đây là những mảng mà người khiếm thị hoàn toàn có thể kiếm được việc làm. Các công việc bao gồm như lập trình, quản trị hệ thống, hỗ trợ kỹ thuật...
Trên đây chỉ là những ý chung về những ngành nghề mà hiện nay NKT có thể dễ dàng kiếm được việc làm với CNTT ở Việt Nam. Còn rất nhiều ngành nghề khác mà người khiếm thị có thể làm được trong đó CNTT cũng sẽ là một đôi mắt thứ hai thay thế cho đôi mắt thứ nhất của họ đã mất đi. Tôi xin chia sẻ một câu nói liên quan về việc làm cho người khuyết tật mà tôi rất tâm đắc: "Đừng hỏi họ làm được việc gì? Mà hãy hỏi họ làm việc đó như thế nào."
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Báo cáo của bạn Trịnh Công Thanh
Cách Lựa Chọn Nghề Nghiệp Phù Hợp Với Người Khuyết Tật
Báo cáo viên: Trịnh Công Thanh
Hội Người KT Hà Nội
DANH MỤC CHÍNH
I. Giới thiệu bản thân
II. Bối cảnh chung
III. Cách thức lựa chọn nghề nghiệp phù hợp đối với người khuyết tật.
1. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tình trạng khuyết tật của bản thân.
2. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở trường, và kinh nghiệm.
3. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tố chất của bạn.
4. Nguyên tắc không bao giờ là quá muộn.
III. Học nghề
1. Tự bỏ kinh phí để theo học nghề
2. Tìm đến các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các dự án ...
IV. Việc làm
1. Tự tạo việc làm
2. Đi xin việc
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
I. Giới thiệu bản thân
- Năm 2002, sau khi tốt nghiệp trường ĐH Luật Hà Nội, trở thành Người khuyết tật, tôi đã suy nghĩ về cuộc sống sau khi ra viện, dù thế nào tôi cũng là một người khuyết tật, tôi phải sống chung với khuyết tật và thay đổi cuộc đời mình.
- Năm 2006 sáng lập Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội và trở thành ủy viên thường trực ban chấp hành Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội, phụ trách các vấn đề thông tin tuyên truyền và thanh niên cho đến nay.
- Năm 2008 sáng lập Hội người khuyết tật quận Hai Bà Trưng và trở thành chủ tịch Hội cho đến nay.
- Năm 2006 thành lập công ty TNHH Du lịch Rồng Việt, đến tháng 7 năm 2009 cổ phần hóa trở thành công ty cổ phần PWD VIỆT NAM giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
II. Bối cảnh chung
Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTB & XH Việt Nam có khoảng 5,5 triệu người khuyết tật. Tập trung chủ yếu ở các vùng nông thôn và miền núi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, do di chứng của sốt bại liệt, do tai nạn nghề nghiệp, tai nạn giao thông và do chiến tranh ... phần lớn người khuyết tật chưa có việc làm và sống dưới mức nghèo khổ.
Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về “Trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006 đến 2010” theo quyết định số 329 của Thủ tướng, người khuyết tật đã được hưởng lợi rất nhiều từ đề án này của chính phủ, đặc biệt là trong lĩnh vực học nghề.
Tuy nhiên được học nghề và sống bằng nghề vẫn còn là một nan đề, và mặc dù có rất nhiều lớp đào tạo nghề cho người khuyết tật được triển khai trên khắp cả nước nhưng phần lớn vẫn không thể tìm được việc làm sau khi kết thúc học nghề.
Xã hội ngày nay phát triển với một tốc độ chóng mặt, có thêm nhiều nghề nghiệp mới, nhiều công việc mới mà người khuyết tật có thể làm được. Thêm sự lựa chọn và thay đổi quan niệm về nghề nghiệp của người khuyết tật, chỉ riêng đối với người khiếm thị, nếu như trước đây các nghề truyền thống là đan chổi, làm tăm, làm dịch vụ massage xoa bóp bấm huyệt thì ngày nay họ có thể làm nhân viên trực điện thoại, nhân viên bán hàng qua điện thoại...
Như vậy, xã hội và thời đại mới đã mở ra nhiều cánh cửa rộng mở để tiếp nhận người khuyết tật, có làm nghề, trụ được với nghề hay không? Hoàn toàn phụ thuộc vào sự lựa chọn của người khuyết tật. Nếu bạn chọn đúng, bạn sẽ có một nghề nghiệp ổn định có thu nhập cao. Nếu bạn chọn sai, bạn sẽ mất thời gian, và không có nghề nghiệp ổn định.
III. Cách thức lựa chọn nghề nghiệp phù hợp đối với người khuyết tật.
1. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tình trạng khuyết tật của bản thân.
Dù bạn có được sự trợ giúp tốt nhất của các dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, bạn vẫn là người khuyết tật vì vậy bạn phải xác định rõ mình là người khuyết tật, khuyết tật có ảnh hưởng thế nào trong đời sống hàng ngày của bạn? Gây cho bạn khó khăn về vận động? Hay giao tiếp?... Những khó khăn đó có thể được khắc phục như thế nào để bạn có thể làm việc tốt mà không gặp trở ngại hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.
Trong bất kỳ một tổ chức, doanh nghiệp đều có những công việc, những vị trí phù hợp với người khuyết tật. Bạn có thể là nhân viên hành chính văn phòng, nhân viên kinh doanh, nhân viên kỹ thuật hoặc là người quản lý. Những công việc không đòi hỏi quá nhiều sự vận động cơ thể hoặc di chuyển ... đều có thể phù hợp với người khuyết tật.
2. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với sở trường, và kinh nghiệm.
Bạn có năng khiếu về hội họa, bạn là người tỉ mỉ khéo tay, ... sở trường của bạn là gì? Thế mạnh của bạn là gì? Nếu lựa chọn công việc đúng với sở trường thế mạnh của bạn, bạn sẽ thấy công việc trở lên dễ dàng và yêu thích nó, bạn làm việc với tất cả niềm đam mê và việc đó làm cho bạn ngày càng phát triển bản thân trong nghề nghiệp và rút ra những kinh nghiệm quý báu.
Ngày nay, hệ thống giáo dục và đào tạo còn mang nặng ý nghĩa hình thức, học còn chưa gắn với thực tiễn cuộc sống. Bạn có bằng cấp nhưng trên thực tế đa số vẫn phải đào tạo tại tại tổ chức, doanh nghiệp thì bạn mới có thể làm việc được, nên rất cần những người có thực học, thực tài, có kinh nghiệm làm việc. Kinh nghiệm thì không thể một lúc mà có ngay được, học thức cũng thế mà phải tích lũy dàn dần qua năm tháng.
3. Lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với tố chất của bạn.
Có khi nào bạn tự hỏi mình? Bạn sẽ là người thầy, người thợ, nhà quản lý hay một doanh nhân? Bạn muốn mình trở thành người như thế nào? và bạn có đầy đủ tố chất và niềm đam mê để trở thành người như vậy hay không? Điều này là không giống nhau trong mỗi chúng ta. Và nghề nghiệp bạn chọn sẽ tùy thuộc vào việc bạn muốn bạn trở thành người như thế nào.
Cũng có khi bạn muốn là một người thợ giỏi, nhưng qua quá trình rèn luyện và học tập bạn tự nhận ra rằng bạn có thể trở thành một người thầy để dạy lại những kiến thức và kinh nghiệm của mình cho người khác hoặc tại sao bạn lại không trở thành một ông chủ một nhà quản lý? Cuộc sống là luôn phát triển, luôn vận động không ngừng nghỉ.
4. Nguyên tắc không bao giờ là quá muộn.
Sau khi bạn đã xác định và lựa chọn cho mình một mục tiêu để hướng tới, bạn hãy dành thời gian và quyết tâm thực hiện mục tiêu của mình. Gia đình, cộng đồng xã hội và thời đại mới luôn đứng về phía bạn, luôn tạo mọi điều kiện để bạn có thể tiếp cận và phát huy khả năng của mình. Không bao giờ là quá muộn để bạn có thể học nghề, làm nghề và phát triển bản thân.
III. Học nghề
1. Tự bỏ kinh phí để theo học nghề
Nếu gia đình bạn có điều kiện, bạn đã dành dụm được một khoản tiền cho việc học nghề? Bạn có thể theo học các trường đào tạo dạy nghề của nhà nước, bạn chủ động đăng ký tham gia, chủ động lựa chọn ngành nghề mình thích và theo học tại đó.
2. Tìm đến các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các dự án ...
Hiện nay tại Việt Nam nói chung và tại Tp HCM nói riêng, có rất nhiều tổ chức xã hội, các dự án có hỗ trợ để người khuyết tật có thể học một nghề nào đó, để có thể làm việc, lập nghiệp sau khi ra trường. Chúng ta có thể kể đến
- Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Tp HCM
- Hội phụ nữ
- Các thành viên của VABED tại Tp HCM
- DRD - Chương trình khuyết tật và phát triển
- Dự án của CRS tại trường ĐH Văn Lang
- Hội thanh niên khuyết tật Tp HCM
- CLB Hướng nghiệp Khuyết tật trẻ.
IV. Việc làm
1. Tự tạo việc làm
Tùy thuộc vào sở thích, tố chất, điều kiện về thời gian và kinh tế, kinh nghiệm bạn có thể tự tạo cho mình một công việc cụ thể, có thể mở cửa hàng buôn bán nhỏ tại nhà, cửa hàng sửa chữa điện thoại, đồng hồ, đóng và sửa chữa giày, sửa chữa xe máy, hoặc thành lập doanh nghiệp, điều này giúp bạn có thể chủ động trong công việc và tạo ra nhiều việc làm mới để có thể nhận các bạn khuyết tật cùng cảnh ngộ vào làm việc
2. Đi xin việc
Ngày nay, ngoài các hoạt động hướng nghiệp dạy nghề, thậm chí dạy nghề theo yêu cầu của công việc của từng công ty thì thái độ của cộng đồng xã hội đối với lực lượng là người khuyết tật có cởi mở hơn. Từ khối các cơ quan doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước lẫn tư nhân hoặc liên doanh. Người khuyết tật được coi trọng và đánh giá cao về năng lực làm việc chứ không bị coi như là những đối tượng cần được chiếu cố trong doanh nghiệp. Chúng ta có thể kể đến chi cục thuế quận 1, công ty du lịch Lửa Việt.
Nhiều tổ chức xã hội, cơ quan truyền thông báo chí đứng ra tập huấn kỹ năng xin việc và giới thiệu việc làm miễn phí cho người khuyết tật. Các tổ chức của Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi tp HCM, Hội phụ nữ, Hội thanh niên khuyết tật Tp HCM và DRD ... báo Sài Gòn Giải Phóng Online có chuyên mục Người khuyết tật cần việc làm...
Điều quan trọng là NKT phải nỗ lực rèn luyện và trau dồi kiến thức chuyên môn, tự tin và quyết tâm khi chọn nghề và lập nghiệp.
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Công cụ mới-Nghề mới
Chúng ta đã có khá nhiều thông tin về CNTT của NKT. Mục tiêu của báo cáo này xin trình bày một vài giải pháp mà trường Đại học Dân lập Văn Lang đang triển khai thực hiện để giúp NKT có thể tiếp cận hiệu quả hơn với CNTT. Mục tiêu của Văn Lang nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng CNTT vào các hoạt động khác nhau của đời sống, cũng như xem CNTT như một ngành nghề ổn định cho NKT hòa nhập xã hội
I- Nhận dạng tình hình
1. CNTT, công cụ tuyệt vời
Các nghiên cứu xã hội học về lối sống của NKT chỉ ra rằng NKT có chung một số trở ngại, còn được gọi là rào cản. Họ gặp trở ngại trong việc đi lại, trong việc cầm nắm vật dụng… ta gọi chung là trở ngại về vận động. Rào cản vận động này được máy tính khắc phục khá hiệu quả. Bởi trên internet, không còn khoảng cách không gian. Không còn sự khác biệt giữa thuận tay trái hay tay phải. Một số người điều khiển máy bằng chân vì tay không sử dụng được.
Một kiểu rào cản khác là rào cản về truyền thông. Trong môi trường máy tính, không còn phân biệt giữa chữ nổi Braille và chữ viết thông dụng. Bạn không thể biết người bạn chat với mình là người nghe hay không nghe được, nhìn hay không nhìn được…
Nhờ các đặc trưng của công cụ mới này, những khó khăn cơ bản của NKT đã được khắc phục. Từ đó họ vượt qua nỗi mặc cảm tự ti về bản thân mình. Cộng đồng cũng vượt qua cái nhìn thiếu kính trọng về NKT.
Cơ hội hòa nhập mới cho NKT gắn liền với sự phát triển của CNTT trên mọi lĩnh vực. Điện thoại di động giúp người khiếm thính có thể liên lạc với mọi người qua tin nhắn. Khi các phần mềm đặc biệt cài vào máy tính, vào điện thoại di động sẽ biến các công cụ này trở nên rất hữu dụng với người mù. Máy tính giúp NKT tham gia học tập, lao động v.v…
CNTT là phát minh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm phát triển năng lực tư duy của con người. Sức lao động cơ bắp ngày càng bị thay thế bởi các công cụ tự động, vi tính hóa, số hóa. Sự lành nghề ngày nay không được hiểu giới hạn trên đôi tay khéo léo nhưng là sự thuần thục các kỹ năng sử dụng công cụ. Đây là những tiền đề cơ bản giúp NKT tham gia thị trường lao động mới. Ta có thể nói, CNTT là nghề mới cho NKT.
Cách đây 30 năm, khó mà tưởng tượng một người đa tật vừa bị tật vận động, vừa bị tật thính giác hoặc thị giác.. lại có thể trở thành một nhân viên giỏi, trưởng phòng hoặc trưởng các dự án kinh doanh.. Thế nhưng điều ấy đã trở thành hiện thực trong thế giới ngày nay.
2. Rào cản
CNTT quả là có rất nhiều phép mầu giúp NKT. Tuy vậy con đường đi đến tương lai của NKT dựa vào CNTT vẫn còn nhiều chông gai, rào cản. Tựu chung, các rào cản xuất phát từ nhận thức của cộng đồng về cơ hội tham gia cho NKT. Ta có thể tóm lược các rào cản ấy như sau:
a- Trở ngại trong việc tiếp cận CNTT:muốn sử dụng được máy tính, NKT phải được huấn luyện. Mỗi dạng tật lại có loại trở ngại riêng., Nhiều người tật vận động đã không tìm được các lớp học có thể di chuyển xe lăn vào lớp được. Ở nước ta lại xảy ra tình trạng giao thông ùn tắt và nhiều người tật vận động không thể tự lái xe gắn máy, không tìm được xe bus có lối cho xe lăn lên… và những cái không ấy đồng nghĩa với: “không đi học được”
Tháo gở rào cản này, ta cần nhìn nhận NKT có quyền được đi học, quyền được đến lớp. Công nhận các quyền làm người cơ bản này, chính là đưa ra các giải pháp xây dựng lớp học sao cho mọi người đều có thể đến lớp được kể cả NKT.
b- Công nhận kỹ năng sử dụng CNTT của NKT: Nhiều người biết số sinh viên khiếm thị VN được nhập học tại các trường đại học đang tăn dần. Đây là một tín hiệu rất đáng tự hào. Bên cạnh đó, ta cũng biết theo quy định của Bộ Giáo dục, sinh viên tốt nghiệp cần có chứng chỉ vi tính mức độ A, chứng chỉ sinh ngữ mức độ B… Câu hỏi đặc ra là làm sao tổ chức thi cho các đối tượng sinh viên khiếm thị?
Bằng cấp thể hiện sự nhìn nhận pháp lý về năng lực của một cá nhân trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. Vậy thì làm sao ta có thể có các cuộc thi công minh, chính xác để xác nhận kỹ năng sử dụng vi tính của người khiếm thị, kỹ năng lập trình của người tật thính giác, tật vận động?
3. Giải pháp của Đại học Dân lập Văn Lang
Trước các câu hỏi nêu trên, trường Đại học Dân lập Văn Lang đã đưa ra một gợi ý. Ấy là chương trình đào tạo lập trình viên là NKT, chương trình đào tạo vi tính văn phòng cho người hỏng mắt… Nhà trường hy vọng các giải pháp này sẽ góp phần tăng thêm cơ hội cho NKT tiếp cận CNTT, thay đổi cách nhìn của cộng đồng về cách đánh giá và công nhận kỹ năng của NKT.
II- Chứng chỉ hoàn thành tin học văn phòng cho người khiếm thị
Trước hết, chúng ta hãy bàn về dự án đào tạo vi tính cho người hỏng mắt của đại học Văn Lang.
-Mục tiêu dự án: đào tạo và cấp chứng chỉ sử dụng vi tính văn phòng cho người hỏng mắt. Chứng chỉ có thể sử dụng cho các trường đại học mà sv khiếm thị đang theo học
- Nội dung giảng dạy:
- Các tài liệu giảng dạy vi tính văn phòng cho người mù trước đây có mục tiêu nhằm trả lời câu hỏi: “Người mù sử dụng máy tính như thế nào”. Do vậy, trọng tâm của tài liệu hướng dẫn các tác vụ cơ bản như kỹ năng soạn thảo và đọc tài liệu văn bản trên máy tính.
- Tài liệu giảng dạy mới của Văn Lang nhằm tiếp tục nâng cao kỹ năng soạn thảo của người mù. Qua đó, người khiếm thị có khả năng định dạng các tập tin văn bản sao cho thuận tiện khi liên lạc với người sáng.
1. Tài liệu giảng dạy:
Giới hạn của nội dung huấn luyện: Người mù khó có thể tạo ra những văn bản rất đẹp về trình bày nhưng họ có thể tạo các văn bản đủ rõ ràng về bố cục khi trao đổi thông tin với người sáng.
Tài liệu hướng dẫn sử dụng máy tính với các phần mềm từ mức độ cơ bản với trình đọc màn hình JAWS. Việc tương tác giữa JAWS với các phần mềm phổ thông như Windows Explore, các phần mềm trong bộ Office 2003. Kỹ năng sử dụng bộ đọc tiếng Việt để soạn thảo và tham khảo các tài liệu tiếng Việt như tài liệu WORD, Excel, Internet. Kỹ năng liên lạc, tìm kiếm thông tin trên mạng.
Kỹ thuật: tài liệu được biên soạn gồm các phiên bản file .doc, tích hợp thành file .chm. Mặc khác, các phiên bản được chia làm hai hình thức là văn bản text và tập tin âm thanh audio.
Các phiên bản Text va Audio được tích hợp trong tài liệu dạng .chm. Hiện, chúng tôi đang tìm cách sử dụng đoạn mã eMbeD vào các file.chm sao cho khi vừa mở file lên, tập tin audio và Text đồng loạt tải về máy. Trở ngại hiện nay là tìm kiếm các đoạn mã để tạo các assess key hoặc Jaws Script sao cho người hỏng mắt ở trình độ cơ bản có thể tương tác được với các control như play, stop….hiển thị trong các file htm được tích hợp trong tài liệu chm.
Các hỗ trợ kỹ thuật này nhằm giúp người hỏng mắt có thể xem tài liệu chm 1 cách thuận tiện trên cả 2 dạng văng bản Text và audio.
2. Kết quả ban đầu và khả năng mở rộng
-Thông qua bộ tài liệu này, người khiếm thị nắm bắt được những thông tin nào đang hiển thị trên màn hình, nắm vững các phím tắt đồng thời hiểu được cách người dùng sáng mắt sử dụng chuột.
Khi người dùng khiếm thị hiểu được cách dùng máy tính của người sáng, họ cũng sẽ thu hẹp các khác biệt giữa họ và người sáng. Họ hiểu cách thông tin cho người sáng về yêu cầu định dạng văn bản sao cho thuận tiện với cả 2 phía. Từ kinh nghiệm ấy, họ hình thành các chuẩn về tạo văn bản tiếp cận-document accessibility.
, Văn Lang đang triển khai khóa học thứ 2. Số lượng học viên đăng ký đang tăng nhanh. Tổng số học viên đến nay là 46 người, với 22 người khóa 1 và 24 người khóa 2.
III- Đào tạo lập trình viên là NKT
CNTT đang là một công cụ mới thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Đây cũng là một nghề mới đang phát triển mạnh tại nước ta cũng như trên toàn cầu. Hiện có nhiều NKT đang mong muốn học tập kỹ thuật mới này và biến nó thành một nghề hữu ích cho họ.
1. Mô hình lớp học tiếp cận
Từ đầu năm 2009, Văn Lang đã triển khai các lớp lập trình cho đối tượng là NKT. Do các hạn chế của thương tật, Văn Lang đã đưa ra các giải pháp mang tính xã hội như sau:
-Tạo điều kiện tốt nhất cho học viên có nơi ở nội trú gần trường nhằm tránh các trở ngại về đi lại, về việc tìm ký túc xác cho học viên khuyết tật ở xa.
Lớp học được trang bị các công cụ phần cứng và phần mềm đạt tiêu chuẩn. Giáo trình theo sát các chuẩn quốc tế hiện nay. Đặc biệt Văn Lang tổ chức thi theo chuẩn ICDL, chuẩn vi tính văn phòng quốc tế.
Phòng học được bố trí với lối đi tiếp cận cho mọi học viên. Hệ thống công trình phụ như nhà ăn, nhà vệ sinh cũng được quan tâm đến các đối tượng gặp trở ngại về vận động, tật, thính giác, tật thị giác…
-Học viên là NKT được hướng dẫn các giải pháp thoát hiểm khi xảy ra tình huống nguy cấp như hỏa hoạn…
-Ngoài việc nghiên cứu các kỹ năng chuyên môn về CNTT, học viên cũng được huấn luyện các kỹ năng mềm khác như kỹ năng đi xin việc làm, kỹ năng tham gia phỏng vấn tuyển dụng…
-Nhà trường không ngừng liên lạc với các doanh nghiệp để giới thiệu học viên sau tốt nghiệp tìm việc làm.
2. Cơ hội được tuyển dụng của học viên sau tốt nghiệp
Phương châm đào tạo là học đi đôi với hành. Nhà trường quan tâm đến nhu cầu tuyển dụng nên xem chỉ tiêu tìm được việc làm của học viên kt là một chỉ tiêu cơ bản của dự án. Đến nay, các khóa vi tính cho NKT đã có được 101 học viên, trong đó 21 học viên đã tốt nghiệp. trong số 21 học viên tốt nghiệp này trong vòng không đầy 6 tháng đã có 15 học viên hiện đang làm việc tại các doanh nghiệp.
Đây chỉ là các kết quả sơ khởi nhưng rất đáng khích lệ cho chúng tôi.
IV- Tổng kết
Văn Lang hy vọng với những thành tựu bước đầu mà chúng tôi đã đạt được sẽ gợi ý cho các đơn vị khác quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu tiếp cận CNTT của NKT. Văn Lang mong đợi ngày càng có thêm nhiều NKT tham gia sử dụng CNTT và CNTT là nghề mới cho họ.
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
Công nghệ thông tin cho Người Khiếm thính
Người trình bày: Dương Phương Hạnh
Chủ tịch CLB Khiếm thính Tp.HCM
Điều phối viên Lĩnh vực Khiếm thính DRD
Kính thưa: - Ban Tổ chức
- Quý vị Đại biểu
- Quý vị khán giả
Hôm nay, tôi rất vinh dự được báo cáo về nhu cầu việc làm liên quan đến CNTT của CLB Khiếm thính nới riêng và của người khiếm thính Tp.HCM nói chung.
Người khiếm thính ở độ tuổi đi làm có hai dạng tật: (1) người Điếc không nghe được và không nói chuyện được giao tiếp chủ yếu bằng ngôn ngữ ký hiệu kèm theo đọc tín hiệu môi và cũng có thể giao tiếp bằng viết ra giấy. (2) Người nghe kém nói chuyện được, nghe bằng đọc tín hiệu môi. Mặt bằng học vấn chung của người Điếc là trình độ cấp hai trở xuống và của người nghe kém là cấp ba trở lên.
Những ngành nghề người khiếm thính đã, đang và có nhu cầu tìm việc cao đó là những công việc yêu cầu khéo tay, tinh mắt: may, thêu, sửa xe gắn máy, in lụa, vẽ … và đặc biệt là ngành đồ họa vi tính, thiết kế web … những chuyên ngành khác về CNTT như phần mềm, quản trị mạng thì có một số em nghe kém đã có bằng cử nhân hoặc chứng chỉ từ các khóa học ngắn hạn.
Phần lớn các trường chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thính trong địa bàn Tp.HCM đều trang bị phòng máy tính cho học sinh. Đơn cử như Hy Vọng 1 nhận được tài trợ từ Sam Sung để trang bị một phòng với 30 máy và mời giảng viên từ trường Đại học KHXH & NV tới giảng dạy, có tổ chức thi lấy bằng A, B tin học. Trường Hy Vọng Bình Thạnh cũng được Tổ chức Phi chính phủ SCC (Saigon Children of Charity) trang bị phòng máy tính, trường Hy Vọng 8, 6 … đều có phòng máy tính. Vấn đề là các giáo viên mong muốn, học sinh khiếm thính được học nghề tin học, cụ thể là đồ học vi tính và có được chứng nhận để xin việc. Tới đây, người khiếm thính đối mặt với các vấn đề:
1. Phần lớn người khiếm thính không theo học ở các trung tâm tin học được vì không nghe.
2. Có các lớp dạy photoshop, thiết kế web … cho người khiếm thính, như tại Chương Trình Khuyết tật & Phát triển (DRD), CLB Hướng Nghiệp Khuyết tật Trẻ … thì không có cấp bằng …
3. Có rất ít doanh nghiệp mạnh dạn nhận khiếm thính vào làm việc liên quan tới CNTT …
CLB Khiếm thính Tp.HCM có em Nguyễn Đặng Tuấn là người Điếc, sử dụng Ngôn ngữ ký hiệu, biết đọc tín hiệu môi và viết chữ tốt trong giao tiếp, em được gia đình hỗ trợ 14 triệu đồng để theo học photoshop, sau đó, em được chính chị ruột là nhân viên của một công ty đồ họa vi tính của Hàn Quốc xin cho vào làm chung … đã ba năm qua, từ mức lương 800. 000 VNĐ khi mới vào làm, tới nay, lương hàng tháng của em là 2 triệu. Tôi đã nhờ gia đình nói với BGĐ Công ty cho tôi cái hẹn gặp để xin giúp cho khiếm thính khác vào làm việc nhưng đã hai năm nay chưa được chấp nhận.
Một trường hợp khác, Công ty TNHH Thương Mại Vĩnh Nam thiết kế đồ họa vi tính thuộc Công viên phần mềm Quang Trung. Công ty giúp nhận khiếm thính vào đào tạo đồ học vi tính theo lối cầm tay chỉ việc. Khóa đầu tiên 14 em với điều kiện tuyển chọn đầu vào phải tốt nghiệp lớp 12. Khóa này tôi đã giới thiệu các em khiếm thính của một dự án giáo dục người Điếc học. Sau khóa này, BGĐ rất khen ngợi, nhận một em làm việc cho Công ty những em còn lại một số xin được việc ở các tiệm chụp ảnh. Sau đó, Vĩnh Nam tuyển sinh thêm khóa thứ hai và điều kiện tuyển đầu vào khi này là trình độ văn hóa lớp 6 trở lên. Kết quả là các em học tập rất tốt, được giữ lại làm việc 4 em.
DRD cũng có tổ chức các lớp thiết kế web, thiết kế giáo trình điện tử do các kỹ sư tin học tình nguyện giảng dạy cho các em Điếc và nghe kém. Các em tiếp thu rất nhanh, kết thúc khóa học đều thiết kế được những website đơn giản, thành thạo các thao tác trong thiết kế giáo trình điện tử nhưng chưa tìm được nơi làm việc.
Đáng tiếc là rất ít gia đình người khiếm thính có được điều kiện kinh tế như gia đình em Tuấn, và nếu có, các doanh nghiệp có tuyển dụng không hay là cần phải có cái may mắn như em Tuấn có chị làm việc tại công ty tin học? Người khiếm thính thì nhiều mà hiện thời chỉ có mỗi công ty Vĩnh Nam!
CNTT là con đường đưa chúng ta đến với thế giới, là cánh cửa mở rộng cho mọi người. Hy vọng rằng, cánh cửa này trong tương lai không còn khép nhỏ đối với người khiếm thính.
Để kết thúc bài cáo, tôi xin được phép kể một câu chuyện. Trên thế giới, trong lĩnh vực khiếm thính, ai cũng biết đến câu nói bất hủ của Tiến sỹ J. King Jordan “Người Điếc có thể làm bất cứ việc gì như mọi người, trừ việc nghe”. Gần đây, tôi may mắn được tham dự hội nghị có Ông phát biểu, và Ông đã nói “Người khiếm thính có thể làm bất cứ việc gì kể cả việc nghe – nhưng làm bằng cách khác” Trong lĩnh vực CNTT, chúng ta chắc chắn cũng tìm được cách khác nếu như tất cả cùng hợp sức.
Cám ơn quý vị đã theo dõi./.
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com
Re: Hội thảo “Công nghệ thông tin cho người khuyết tật VN”: Người khuyết tật gặp nhiều thách thức
CNTT CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT (NKT) Ở VIỆT NAM
Báo cáo viên: Trần Mạnh Huy
Cty Cổ Phần Hệ Thống TT FPT Chi Nhánh Đà Nẵng
“NKT có hạn chế nhất định so với người bình thường, nhưng nếu biết sắp xếp đưa vào một công đoạn thích hợp của công việc, đặc biệt liên quan đến CNTT thì họ lại phát huy rất tốt thế mạnh của mình.”
Ý kiến ủng hộ
“NKT tuy cần cù trong công việc nhưng hay tự ti, mặc cảm, và có tâm lý mình phải được phục vụ từ cộng đồng, điều này làm các doanh nghiệp e ngại trong việc tuyển dụng NKT.”
Ý kiến e ngại
CNTT cho NKT – Cơ hội và thách thức
Cơ hội:
Ngày nay, với sự phát triển của KHKT, ngành CNTT phát triển rất sâu rộng và đang ngày càng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho mọi tầng lớp lao động của xã hội ở Việt nam. NKT với lực lượng lao động dồi dào, có khả năng tiếp thu công nghệ nhanh, vì thế cũng đang có nhiều cơ hội làm việc trong ngành CNTT và vươn lên trong cuộc sống. Hơn nữa, hơn bất cứ ngành nghề nào hết, CNTT cũng có rất nhiều công việc phù hợp với NKT như đồ họa, kiểm định phần mềm, BPO (gia công quy trình doanh nghiệp), v.v. nên số lượng lao động NKT trong ngành CNTT ngày càng hùng hậu.
Thách thức:
Tuy nhiên, NKT cũng gặp khá nhiều thách thức trong việc hòa nhập xã hội băng các việc làm CNTT. Do đa phần NKT có trình độ văn hóa còn nhiều hạn chế, nên việc theo học các ngành nghề CNTT luôn gặp những khó khăn nhất định. Hơn nữa, thời gian để sở hữu 1 chuyên môn CNTT tốt là tương đối dài và điều này làm hạn chế việc chọn nghề CNTT của NKT.
Hơn nữa, đa phần NKT là người nghèo, nên NKT thường chọn những ngành nghề “ngắn hạn” – ít đầu tư để mưu sinh và thường chưa thấy rõ CNTT là ngành “chiến lược” để theo đuổi trong việc hòa nhập với xã hội trong dài hạn.
Một thách thức khác cho NKT trong việc chọn CNTT là CNTT chỉ tập trung phát triển ở những thành phố lớn, nên NKT ở các nơi khác khó tiếp cận với các chương trình đào tạo và việc làm.
Các ngành nghề CNTT phù hợp
Một số ngành nghề CNTT phù hợp với NKT như bảng dưới đây
Gia công nghiệp vụ doanh nghiệp (BPO)
Xử lý số liệu, Tài chính kế toán, Chăm sóc khách hàng, Nhân sự, v.v.
Thiết kế đồ họa, chương trình
Đồ họa phần mềm, Quảng cáo, Xử lý ảnh, Báo chí, v.v.
Kiểm định phần mềm
Kiểm định phần mềm, kiểm định hệ thống, v.v.
Lập trình viên
Lập trình ứng dụng, Lập trình hệ thống, Lập trình hệ thống nhúng, v.v.
Quản lý dự án
Quản lý dự án phần mềm ứng dụng, Quản lý dự án tích hợp hệ thống, Quản lý dự án dịch vụ, v.v.
Chiến lược phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT
Việc phát triển nguồn lực NKT phục vụ cho ngành CNTT luôn là những thách thức cho người hoạch định chính sách do các vấn đề lực lương lao động, hệ thống giáo dục chuyên biệt, ngân sách hoạt động, ngoại ngữ, kỹ năng mềm, hòa nhập văn hóa, v.v.
Dưới đây là 2 việc cần làm trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT:
- Xác định và quản lý các chi phí cho việc phát triển nguồn lực NKT
- Xây dựng các biểu đồ chi phí để xây dựng lực lượng lao động NKT đủ trình độ trong lĩnh vực CNTT:Việc xây dựng lực lương lao động NKT đủ trình độ đòi hỏi một kế hoạch đào tạo dài hơi và qua nhiều giai đoạn, do đó việc quản lý chi phí cho các kế hoạch này cần được xây dựng, theo dõi và quản lý chặt chẽ.
- Chia các giai đoạn đào tạo nghề CNTT theo dự án dựa trên kinh phí: Do đặc thù của ngành CNTT và nguồn kinh phí có hạn cho việc đào tạo nghề, chúng ta nên chia các giai đoạn đào tạo nghề CNTT theo từng giai đoạn phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và nguôn kinh phí được phân bổ. Với cách này, NKT sẽ được đào tạo nghề hướng mục tiêu theo nhiều nhu cầu công việc thực tế của các doanh nghiệp.
- Kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp, nhà nước tham gia vào các dự án đào tạo nghề và sử dụng lao động NKT nhằm tận dụng tốt các nguồn lực xã hội chăm sóc cho NKT
- Xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm
- Thành lập nhóm hành động: Việc xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm phù hợp với NKT có tay nghề CNTT đòi hỏi sự đóng góp của nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức của xã hội do đó việc thành lập 1 “task force” để luôn tìm kiếm, xác định và chọn lựa những cơ hội việc làm phù hợp theo sự phát triển của ngành CNTT là luôn cần thiết trong suốt quá trình phát triển nguồn lực NKT
- Xây dựng các “case study” về sử dụng nguồn lực NKT-CNTT trong doanh nghiệp: Việc sử dụng nguồn lực NKT – CNTT trong các doanh nghiệp CNTT và không CNTT hiện nay là rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này, tuy nhiên, việc chưa có một “case study” tốt để “cung” gặp “cầu” một cách hiệu quả là một nguyen nhân vô cùng quan trọng. Việc xây dựng các “case study” thành công sẽ giúp các doanh nghiệp mạnh dạn hơn khi sử dụng nguồn lực NKT và NKT cũng hiểu hơn các điều cần thiết để chuẩn bị trong thời gian học nghề và làm việc sau này.
- Xác lập các thông số đo lường hiệu quả của nguồn lực NKT-CNTT trong các doanh nghiệp, chú trọng về vấn đề rủi ro, chi phí, hiệu quả nhằm giúp các doanh nghiệp thấy rõ bức tranh toàn cảnh về việc sử dụng nguồn lực NKT
- Xác định và tư vấn cho doanh nghiệp sử dụng nguồn lực NKT dựa trên các “best practices” và “PWD Selection Matrix”
Mô hình triển khai
Xin giới thiệu 1 mô hình triển khai việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT như bảng dưới đây. Chi tiếc cụ thể về các bước sẽ đề cập ở tài liệu khác khi cần thiết.
Quản lý thay đổi trong việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT
NKT hiện nay đa phần tập trung ở các công việc giản đơn và đây có thể xem là suy nghĩ chung của mọi người, của các doanh nghiệp, của xã hội và kể cả NKT về việc làm cho NKT.
Thay đổi nhận thức như vậy đòi hỏi phải có một chương trình hành động cụ thể và lâu dài nhắm vào bản thân NKT và xã hội nhằm thay đổi một cách tích cực xu hướng nghề nghiệp cũng như sử dụng lao động NKT trong các doanh nghiệp.
Xin giới thiệu 2 mô hình quản lý thay đổi dành cho nguồn lực NKT và môi trường xung quanh trong việc phát triển nghề nghiệp CNTT cho NKT. Chi tiết về hai mô hình sẽ được đề cập ở tài liệu khác khi cần thiết
Mô hình QLTĐ cho nguồn lực
Mô hình QLTĐ cho cho môi trường
Hỗ trợ từ nhà nước và các doanh nghiệp
Để xây dựng được chương trình việc làm CNTT cho NKT, không thể không kể đến sự hỗ trợ từ nhà nước và các doanh nghiệp trong việc hoạch định những chính sách cho NKT, xây dựng những hạ tầng CSVC để hỗ trợ NKT trong việc đến với CNTT và làm việc. Điều quan trọng nữa là luôn tạo cơ hội cho NKT được tham gia vào quá trình học tập CNTT và tạo cơ hội việc làm cho những lao động đủ trình độ chuyên môn và đạo đức cũng như ủng hộ về mặt tài chính cho những cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào chương trình này.
Tran Ba Thien
tranbathien@gmail.com